quân đội thời lý
Bách Thần Đất Việt Tập 9 - Các Vị Thần Thời Trần (NXB Quân Đội 2011) - Vũ Thanh Sơn, 258 Trang. Discussion in 'Lịch Sử Học' started by Xnhi345, Sep 11, 2022. Bách Thần Đất Việt Tập 8 - Các Vị Thần Thời Lý (NXB Quân Đội 2011) - Vũ Thanh Sơn, 213 Trang > Xnhi345 Member.
3. Hướng dẫn viết Sơ yếu lý lịch quân đội. 3.1. Bố cục trong mẫu Sơ yếu lý lịch quân đội. Trong sơ yếu lý lịch quân đội sẽ có các phần cơ bản như sau: - Phần Thông tin lý lịch người khai lý lịch. - Phần Quá trình đào tạo, hoạt động của gia đình người khai lý
Tư lệnh Không quân Shaboshnikov lúc đầu lấy lý do thời tiết không thích hợp cho việc cất cánh để trì hoãn việc đưa lực lượng nhảy dù tới, sau đó thì dẫn đường cho máy bay hạ cánh nhầm sân bay, khiến lực lượng nhảy dù không thể tập kết đúng thời gian trong kế
đáp án đúng: B. Quân đội của nhà Lý được phiên chế thành những bộ phận là cấm quân, quân địa phương. Quân đội của các nhà nước phong kiến ở Việt Nam từ thế kỉ XI đến XV sớm được tổ chức quy củ, gồm hai bộ phận: cấm quân- quân bảo vệ nhà vua và kinh thành
Để đối đầu với thế lực của Chúa Trịnh, các Chúa Nguyễn đã xây dựng quân đội thường trực khoảng 40.000 người, khi chiến sự xảy ra (trong nội chiến Trịnh - Nguyễn) quân đội Nguyễn có lúc lên tới 100.000 người. Ngoài vũ khí truyền thống như quân đội các thời
Wo Kann Ich Reiche Frauen Kennenlernen. Thời Lý, khi đất nước hòa bình thì chỉ có cấm quân thường trực bảo vệ kinh đô Thăng Long, các quân khác chia phiên luyện tập, canh phòng, một bộ phận trở về trong dân sản xuất, cày cấy. Tại hội thảo "30 năm đổi mới quân sự quốc phòng, thành tựu và kinh nghiệm" tổ chức ngày 16/12, PGS Đinh Ngọc Hải, Viện trưởng Sử học, đã có bài tham luận đề cập đến chính sách nuôi quân thời phong kiến thu hút sự chú ý của đại biểu. "Ngụ binh ư nông" là chính sách quân sự nảy sinh và phát triển ở nước nông nghiệp luôn phải đương đầu với kẻ thù xâm lược hùng mạnh như Việt Nam. Ngụ binh ư nông được hiểu là gửi binh lính ở nông thôn khi quốc gia vô sự, lúc có giặc thì toàn dân là lính. Đây là chính sách kết hợp xây dựng quốc phòng với kinh tế, các triều đại Lý, Trần, Lê đều áp dụng hiệu quả. Ngụ binh ư nông gửi quân sĩ làm nông nghiệp theo lối thay phiên nhau. Khi dân số đất nước ít, trai tráng từ 18 tuổi trở lên, khỏe mạnh đều phải làm nghĩa vụ quân sự. Đinh tráng được huấn luyện, có kiến thức tối thiểu về võ nghệ. Họ đều là quân dự bị, cần điều động là có ngay, ai nấy biết rõ quân ngũ của mình. Thời Âu Lạc, An Dương Vương sai đắp thành Cổ Loa, tướng Cao Lỗ huấn luyện quân sĩ, vừa huy động quân dân đắp thành, đồng thời đắp đê phòng lũ. Trong nghìn năm chống Bắc thuộc, các anh hùng dựng cờ khởi nghĩa thường tập hợp anh em, họ hàng trong làng xã trước khi khởi nghĩa lan ra cả nước. Từ thế kỷ X, nước nhà giành độc lập lâu dài, quân đội các triều đại phong kiến được xây dựng quy củ, phép tắc, điển chương, cần có chính sách rõ ràng. Chính sách ngụ binh ư nông ra đời và dần định hình rõ nét. Sử cũ chép rằng, năm 974 Đinh Tiên Hoàng tổ chức quân thập đạo, trong đó quân lính làm ruộng là chính và khi cần là binh. Đội quân ấy chống Tống, phạt Chiêm thắng lợi. Sau năm 982, đất nước không còn chiến tranh thì các vua nhà Tiền Lê, từ Lê Hoàn tới Lê Long Đĩnh đều huy động quân sĩ cùng dân đóng thuyền, đào sông, đắp đường. Có năm, triều đình huy động lính của Châu Hoan Nghệ Tĩnh đi sửa sang đường đất từ Nghệ Tĩnh đến giáp Đèo Ngang. Thời Lý, vua Lý Thái Tổ đã phát triển quân đội ngày càng quy củ và mở rộng hơn, chính sách ngụ binh ư nông vì thế cũng đi vào quy chế. Quân đội thời Lý gồm quân triều đình cấm quân có khoảng người, là lực lượng thường trực bảo vệ kinh thành Thăng Long. Quân địa phương gồm quân đội đóng ở các châu, lộ do quan trấn thủ chỉ huy, không có số nhất định, gọi là sương quân cùng quân của các vương hầu, quý tộc và quân của tù trưởng miền núi, gọi là thổ binh. Khi chiến tranh với Chiêm Thành, triều đình huy động được trong kháng chiến chống Tống huy động được 60-100 nghìn trong số dân ước tính 3-4 triệu. Nhà Lý thi hành "Luật Nghĩa vụ quân sự", dân đinh đến 18 tuổi phải đăng ký vào sổ bìa vàng, gọi là hoàng sách, nên hạng đinh này được gọi là hoàng nam. Đinh trên 20 tuổi gọi là đại hoàng nam. Cấm quân có số nhất định, tuyển các đại hoàng nam khỏe mạnh và giỏi võ bổ sung vào. Số còn lại ở nhà sản xuất, tham gia dân đinh, sẵn sàng vào quân đội khi có lệnh triều đình nên không có con số nhất định. Đối với quân thường trực, nhà nước quy định chế độ "chia phiên". Khi đất nước hòa bình thì chỉ có cấm quân là phải trực thường xuyên để bảo vệ kinh đô, còn các quân khác thì chia phiên, một bộ phận trực tại ngũ, luyện tập và canh phòng, một bộ phận trở về sản xuất. Khi đất nước có giặc, tất cả trở lại quân ngũ để chiến đấu. Sách An Nam chí lược bộ sử triều Trần chép "Quân không có số nhất định. Người dân nào đến tuổi cũng phải đăng lính, nhưng hàng tháng họ vẫn được thay nhau về làm ruộng". Còn sách Lĩnh ngoại đại đáp viết đầu thế kỷ XII, thời Lý chép cụ thể hơn "Binh lính một tháng một lần thay nhau nghỉ, để cày cấy tự cấp. Hàng năm vào ngày mồng bảy tháng giêng, mỗi người lính được phát 300 đồng tiền, một tấm lụa, mười bó lúa". "Lúc chinh phạt thì cất quân giao cho các tướng, Nếu quân không đủ thì lấy dân binh mà dùng. Việc xong lại trở về cày ruộng", sách Đại việt sử ký của Ngô Thì Sĩ chép. Chính sách ngụ binh ư nông thời Lý giúp triều đình cân đối giữa quân thường trực và quân dự bị. Bình thường chỉ có 30-50 nghìn quân, một bộ phận luân phiên về sản xuất, nhưng khi có chiến tranh thì triều đình huy động được hơn quân. Chính sách thời Lý được nhà Trần, nhà Lê vận dụng. Dưới triều Trần, thời bình thì quân cấm vệ và quân các lộ không đầy chỉ trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông mới huy động đến chưa kể quân đội riêng của các vương hầu. Nhà sử học Phan Huy Chú đã có nhận xét xác đáng "Thời Trần, phục binh ở nơi thuận tiện, lúc vô sự thì cho về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi tên ra hết" cho nên "binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù. Vậy nên thời Trần ai cũng là binh nên mới phá được giặc giữ, làm cho thế nước được mạnh". "Chiến công dẹp quân Chiêm, phá tan quân Tống thời Lý, cái oai hùng ba lần đánh bại quân Nguyên thời Trần cũng đủ cho biết binh lực hai đời cường thịnh thế nào". Trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần hai, vua Trần triệu tập các bô lão về kinh thành Thăng Long dự Hội nghị Diên Hồng. Vua hỏi ý kiến nên "Hòa" hay "Đánh", chỉ nghe đồng thanh một lời hô "Đánh". Việc triệu tập hội nghị cho thấy trước nạn ngoại xâm, triều đình biết tìm sức mạnh nhân dân. Bộ lão là đại biểu đầy uy tín của toàn dân đem về hội nghị tiếng nói quyết chiến, sự ủng hộ toàn dân đối với chủ trương của triều đình. Từ đó, bô lão cũng đem chủ trương của triều đình truyền đạt về làng xã, động viên toàn dân đánh giặc. Ba lần chống Nguyên - Mông là ba lần toàn dân là lính. Nhiều làng xã tự tổ chức bố phòng như một cứ điểm, giặc không sao vào được. Nắm tình hình địch, chuẩn bị trận địa, nghi binh... quân triều đình đều phải dựa hết vào dân. Trong trận quyết chiến Bạch Đằng 1288, bà hàng nước ở bến đò báo cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tình hình thủy triều lên xuống, người dân nghi binh lừa giặc, phá cầu ngăn toán quân bộ phối hợp quân thủy của địch, cùng quân triều đình chuẩn bị trận địa cọc ngầm, bè mảng hỏa công... Sau chiến thắng, vua Trần sắc phong cho làng Yên Giang và một số làng khác có công lớn là "nghĩa dân" và trọng thưởng nhiều dân thường có công khác. Thời Lê, ngoài việc tiếp tục gửi binh nơi đồng ruộng, quân đội còn trực tiếp làm ruộng. Số quân thường trực khi này có khoảng Vua Lê chia thành 5 phiên, cứ lần lượt thay nhau một phiên "lưu ban" nay gọi là thường trực, còn 4 phiên về làm ruộng. Số quân thường trực thực chất chỉ có Năm 1466, số quân chia làm 2 ban, nửa về làm ruộng, nửa tại ngũ. Cuối thế kỷ XV, lính coi ngục và lính nấu bếp cũng được luân phiên về làm ruộng. Quân thường trực thời vua Lê Thánh Tông có khoảng trong hơn suất đinh. Nhưng khi cần thì huy động được 250-300 nghìn một cách dễ dàng. "Ngụ binh ư nông" giúp các nhà nước phong kiến Việt Nam duy trì lực lượng quân đội cần thiết, đồng thời lại có quân dự bị đông đảo tại làng xã, sẵn sàng huy động khi nước có giặc. Qua đó, giảm thiểu tối đa gánh nặng cho triều đình và nhân dân trong việc nuôi quân và vẫn sản xuất nông nghiệp, đảm bảo lao động ở nông thôn không bị thiếu. PGS Đinh Quang HảiViện trưởng Sử học >>Toàn cảnh lịch sử Việt Nam qua video 8 phút
Cấm quân là bộ phận có vai trò rất quan trọng trong quân đội thời xưa. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người chưa biết rõ nhiệm vụ của cấm quân là gì? Vậy nên bài viết này chúng tôi xin chia sẻ cho các bạn những thông tin chi tiết hơn về cấm quân. Hoàn cảnh ra đời của cấm quân Trước khi chúng ta tìm hiểu về “Nhiệm vụ của cấm quân là gì?” thì chúng ta hãy cùng tìm hiểu sơ lược để các bạn biết được cấm quân ra đời như thế nào trước nhé! Tìm hiểu về nhiệm vụ của cấm quân Năm 1009, vị Vua cuối cùng của nhà Tiền Lê Lê Long Đĩnh qua đời khi con trai vẫn còn rất nhỏ, Lý Công Uẩn đã được lực lượng của Đào Cam Mộc và thiền sư Vạn Hạnh tôn lên làm Hoàng đế. Từ đây nhà Lý đã chính thức được thành lập. Thời nhà Lý rất chú trọng đến sự phát triển toàn diện đất nước về mọi mặt như văn hóa, xã hội, quân đội, giáo dục,.… Quân đội thời nhà Lý được chia làm 2 bộ phận là cấm quân và quân địa phương. Cấm quân ở thời Lý đều là những thanh niên khỏe mạnh được tuyển chọn kỹ lưỡng trong cả nước để làm quân lính ở trong cung điện bảo vệ cho vua và triều đình. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng Cấm quân chính là đội quân tinh nhuệ được tuyển chọn kỹ lưỡng trong nhân dân và trải qua quá trình đào tạo khắc nghiệt để bảo vệ cho nhà vua và triều đình. Nhiệm vụ chính của cấm quân chính là bảo vệ nhà Vua và triều đình. Bên cạnh đó thì cấm quân cũng là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Họ có thể được điều động đến các lộ để tham gia tác chiến cùng quân địa phương. Tùy thuộc vào mỗi triều đại khác nhau mà nhiệm vụ của cấm quân cũng sẽ có sự thay đổi. Đội cấm quân được rèn luyện khắc nghiệt Nhiệm vụ của cấm quân ở các thời Lý, Trần, Nguyễn Mỗi thời khác nhau thì nhiệm vụ của cấm quân sẽ được điều chỉnh sao cho phù hợp với hoàn cảnh. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu kỹ hơn về nhiệm vụ của cấm quân vào các thời Lý, Trần và Nguyễn ở dưới đây. Thời Lý Cấm quân ở thời Lý còn có tên gọi khác là thiên tử binh. Các binh lính thuộc đội cấm quân cũng được xăm thêm ba chữ “Thiên Tử Binh” ở trên trán để có thể dễ dàng phân biệt được với các đội quân khác. Đội quân này được chỉ huy trực tiếp bởi các tướng lĩnh cấp cao nhận quyền chỉ huy trực tiếp của nhà Vua. Cấm quân vào triều đại Lý lúc này không hề được tổ chức thống nhất về biên chế, mà tùy theo từng đời Vua sẽ có thay đổi tổ chức khác nhau. Thông thường thì cấm quân sẽ được chia nhỏ thành các vệ, mỗi vệ có từ 200 – 500 người. Dưới các vệ là đô và hỏa, mỗi đô có khoảng 100 người. Dưới thời cai trị của Vua Lý Thái Tổ vào khoảng thời gian từ năm 1010 – 1028, đội cấm quân có số lượng khoảng 3000 người, được chia thành 6 vệ và mỗi vệ có 500 người. Dưới thời Vua Lý Thái Tông 1028 – 1054, cấm quân có số lượng khoảng 2000 người, được chia nhỏ thành 10 vệ và mỗi vệ có biên chế 200 người. Đến thời Vua Lý Thánh Tông 1054 – 1072, đội cấm quân có số lượng khoảng 3200 người chia thành 16 vệ, mỗi vệ được biên chế 200 người. Thời Trần Năm 1239, Vua Trần Thái Tông đã ra lệnh cải tổ về quân đội ở cả nước, chia quân thành 3 cấp bậc là Thượng, Trung và Hạ. Trong đó, cấm quân thuộc bậc Thượng, đóng quân quanh khu vực kinh đô Thăng Long và hành cung Thiên Trường vùng đất tổ nhà Trần để bảo vệ cho triều đình và hoàng gia. Đây là đội quân đóng vai trò rất quan trọng trong quân đội cả nước. Một đội cấm quân làm nhiệm vụ bảo vệ cho nhà Vua Các binh sĩ cấm vệ quân đều được tuyển chọn kỹ lưỡng từ những tráng đinh trên cả nước. Họ phải trải qua sự huấn luyện hà khắc và trang bị đầy đủ những binh khí tốt nhất để làm nhiệm vụ. Cấm quân thời nhà Trần cũng là đội quân có binh lực đông đảo nhất trong cả nước, lúc cực thịnh số lượng có thể lên đến 10 vạn người. Đội quân này được lập ra nhằm đảm bảo sự phục tùng của các địa phương đối với triều đình trung ương là trung thành, đồng thời đủ sức để trấn áp được mọi thế lực cát cứ và nội loạn ở trong nước. Cấm quân của nhà nước Đại Việt được xăm lên trán 3 chữ “Thiên Tử quân” và được chỉ huy bởi Điện tiền chỉ huy sứ – người trong tôn thất đảm nhiệm. Cấm quân trên một phương diện nhất định thì có thể xem như là tư binh của hoàng đế. Bởi chỉ huy của đội quân này là người tuyệt đối trung thành với nhà Vua. Vì thế mà mọi mệnh lệnh điều động của Binh bộ đều không có tác dụng với cấm quân. Thời nhà Nguyễn Từ năm 1802 – 1883, cấm quân nhà Nguyễn đóng quân ở kinh thành Phú Xuân nay là thành phố Huế được gọi là Vệ binh. Đội quân này có nhiệm vụ chính là bảo vệ kinh đô và các Vua nhà Nguyễn. Hệ thống tổ chức và biên chế của Vệ binh ở thời này ngày càng hoàn thiện hơn. Vệ binh thời Nguyễn có số lượng khoảng người chia nhỏ thành ba bộ phận là Thân binh, Cấm binh và Giản binh. Năm 1885, sau khi nhà Nguyễn phải lệ thuộc hoàn toàn vào quân Pháp thì lực lượng cấm quân này đã bị tan rã. Chỉ còn lại một số ít gọi là Thân binh với biên chế khoảng 2000 người để hầu cận bên cạnh các vị Vua. Xem thêm Lãnh địa phong kiến là gì? Đặc trưng, sự hình thành giai cấp Bên trên là những thông tin chúng tôi chia sẻ cho các bạn về nhiệm vụ của cấm quân là gì? Hy vọng bài viết giúp các bạn có thêm những kiến thức mới trong môn Lịch sử. Nếu có bất cứ thắc mắc gì về nội dung bài viết các bạn hãy comment ở bên dưới để được giải đáp nhé!
quân đội thời lý