nghi thức chẩn tế miền trung

Khối văn phòng: 0236.3632.111 (7h00- 17h30 trừ Chủ nhật) Cấp cứu: 0236.3632.333 ( 24/7) Email: family@familyhospital.vn. Giờ làm việc: 06:00 đến 17:00 - Tất cả các ngày. Khám & điều trị bệnh đa khoa, cấp cứu 24/24. Phẫu thuật thẩm mỹ. Bệnh viện có cơ sở hạ tầng sạch sẽ, hiện 0978559557. tyttd.pleiku@gialai.gov.vn. IV. Thông tin giao dịch chính thức: Tên cơ quan đơn vị: Trung tâm Y tế thành phố Pleiku. Địa chỉ: 17 Trần Quốc Toản, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Điện thoại cơ quan: 02693606330. Số Fax: 0269 3887033. Địa chỉ thư điện tử: ttyt Mâm cúng đầy tháng bé trai. Trong cách cũng đầy tháng cho bé trai, mẹ cần sắp xếp mâm cũng đầy tháng bé trai chia thành 2 mâm. Mâm trên cách mâm dưới không quá 10 phân. Trong đó, bàn nhỏ và thấp hơn để bày lễ vật cúng kính Đức ông; còn bàn lớn cao hơn sẽ bày lễ vật Giai đoạn 1: Là giai đoạn nghiên cứu quá trình tại một thời điểm để chẩn đoán, làm sáng tỏ và chính xác hoá các đặc trng và thông số cấu trúc của quá trình. Sau khi phân tích, xác định đặc tính và sự thay đổi của các chỉ tiêu đó. Nhờ việc nghiên cứu có sử dụng các công cụ toán học xác định. Sau khi xem xét tờ trình của Sở LĐ-TB&XH, UBND tỉnh Cà Mau thống nhất tạm thời tiếp nhận Yuan vào chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội. Ngày 2/9, Công an tỉnh Cà Mau có báo cáo về nhân thân của bệnh nhân 15 tuổi. Theo báo cáo, thông tin mà bệnh nhân cung cấp thì Wo Kann Ich Reiche Frauen Kennenlernen. Cúng thí thực cô hồn là một khoa nghi cứu độ cho các oan hồn uổng tử, không nơi nương tựa đã có tự ngàn xưa. Phát xuất từ hồi Phật còn tại thế. Ý nghĩa của việc cúng thí thực cô hồn Nghĩa của hai chữ thí thực là bố thí thức ăn, về quan niệm ăn của Phật Giáo như saua. oạn thực thức ăn cứng, có thể chia thành phần như cơm, cháo, rau, canh, thịt, cá & các thức vật có hương vị làm xúc cảm tâm thức. Tóm lại là những thức ăn thông thường mà các chúng sanh trong cỏi Trời, Người và súc vật thường ăn, ăn bằng miệng và tiêu hóa Xúc thực Ăn với thức quan hay biết mùi vị, tức là cách ăn của Quỷ, Thần thọ hưỡng hương vị mà Tư thực ăn với sự kiện thần giao tư tưởng, là phép ăn của bậc Thiên trên cỏi sắc giới, ăn với phương thức thuyền duyệt tức là không chủ về vật phẩm ăn mà chỉ thọ hưỡng hơi hương, luôn luôn xem việc ăn là đạo vị, thanh Thức thực ăn qua sự giao cảm của thức thứ 8, phép ăn nầy bậc Thánh, Phàm có khác nhau, bậc Thánh hưỡng thụ một cách hồn nhiên không phân biệt, còn bậc phàm phân biệt là ngon, dở; do chỗ phân biệt mà có tham muốn rồi khởi lên tư tưởng tham ăn đến bị vào vòng sinh tử, luân vậy mà khi mình ăn thì bậc Thánh cũng thọ hưỡng cho đến các loài ngạ quỷ, súc sanh đều thọ dụng. Do đó mà các bậc tu hành, khi ăn trước hết phải cúng dường lên Phật, lên Tổ rồi làm phép Thí thực cho khắp thập loại chúng sanh, cô hồn, hai chữ cô hồn là nói chung tất cả những hương hồn bơ vơ, cô độc, không nơi nương tựa, không nơi thờ cúng, không ai ghi nhớ. . . Nhưng theo kinh sách thì gọi là Thí Thực Ngạ quỷ tức là ban phát thức ăn cho các loài quỷ đói, do đó những hương hồn bơ vơ, không nơi nương tựa cũng trở thành ngạ quỷ. Vậy thí thực cô hồn cũng là Thí thực Ngạ quỷ. Cúng thí thực cô hồn là một khoa nghi cứu độ cho các oan hồn uổng tử, không nơi nương tựa đã có tự ngàn xưa. Phát xuất từ hồi Phật còn tại thế. Trong kinh Phật thuyết Diệm Khẩu Ngạ quỷ à la ni có ghi lại Một hôm ngài A Nan đang tịnh tu, có một con quỷ mặt mày quái dị đến nói với ngài trong ba ngày nữa ngài sẽ chết. Ngài đem chuyện ấy bạch lại với đức Phật. Phật dạy khắp trong ba cõi đều có các loài ngạ quỷ cần cứu độ. Phật còn dạy cho ngài A Nan những chú nguyện cần thiết và bảo lấy gạo nấu cơm cháo để cúng thí. Từ đó về sau mỗi lần thọ trai, các đệ tử của Phật thường sớt lại phần ăn để bố thí chúng sanh và ngạ quỷ. Mãi về sau, việc cúng thí được chư Tổ sắp xếp theo thứ lớp Cúng Phật, Cúng Tổ, thí thực ngạ quỷ cô hồn trước khi chư Tăng thọ trai. Tại chùa, cúng thí thực như là một phần hành trì thiết yếu hằng ngày sau công phu chiều. Ở Việt nam, ngày trước cứ mỗi lần trong nhà có lễ quan, hôn, tang , tế đều có cúng thí thực. ơn giản một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo, hay thông thường gọi là cúng Mông sơn thí Nguyện nhân đời nhà Tống, Cam lồ Pháp sư lập một trai đàn cúng thí thực trên đỉnh Mông sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, phần khoa nghi dựa theo kinh chú Phật thuyết và lời cầu nguyện tóm tắc như sau1/ Trình bày tất cả do tâm tạo, qua kệ Hoa Nghiêm Nhược nhơn dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật, Ứng quán pháp giới tánh, Nhất thiết do tâm Nguyện xa lìa cảnh ác thú bằng cách tập trung tư tưởng phá tan mọi phiền não, sám hối tội lỗi, giải sạch oan khiên qua chú Phá địa ngục chơn ngôn, Phổ triệu thỉnh chơn ngôn, Giải oan kết chơn Cung thỉnh Mười phương Tam bảo, Thích Ca, Quán Âm, ịa Tạng, và A Nan à giáng lâm tác Hướng dẫn chúng sanh quy y Tam bảo Quy y Phật lưỡng túc tôn, Quy y Pháp ly dục tôn, Quy y Tăng chúng trung Sám hối Nhất thiết Phật tử, Hữu tình, Cô hồn giai sám hối. Nói chung cả người cúng lẫn kẻ thọ cô hồn phải thành tâm sám hối mới có lợi lạc. Kẻ cúng không bị đọa lạc, người hưởng cô hồn mới thọ dụng được pháp Phát đại nguyện Chúng sanh thệ nguyện độ, Phiền não thệ nguyện đoạn, Pháp môn thệ nguyện học, Phật đạo thệ nguyện thành. Chính người có phát tâm mới có giao cảm giữa người cứu độ và người cầu độ, mới gặt hái được kết quả lợi Diệt tộiThành tâm sám hối, phát đại nguyện, hành giả tụng các thần chú diệt tội mới có linh cảm Diệt định nghiệp chơn ngôn của ngài ịa Tạng .Diệt bất định nghiệp chơn ngôn của ngài Quán Tuyên thuyết định giới thần chú khai yết hầu chơn ngôn và tam muội da giới chơn ngôn. ể cho chúng sanh diệt trừ chướng ngại, mở rộng yết hầu, thọ hưởng pháp thực; thọ xong , giữ giới để thoát khỏi phiền Biến thức ăn thành pháp vị Biến thực chơn ngôn, Cam lồ thủy chơn ngôn, Nhất tự thủy chơn ngôn, Nhủ hải chơn ngôn; khiến cho chúng sanh thọ hưởng được sung Niệm Phật ể cho hành giả và chúng sanh tạo duyên lành gây chủng tử Kết nguyện Thần chú gia trì tịnh pháp thực, tất cả Phật tử, hữu tình, cô hồn đã no đủ, xã hết tham dục mau thoát cảnh u đồ vào tịnh độ. Trì chú”vô giá thực chơn ngôn” phá tang sự ngăn ngại thánh phàm, tăng tục, bình đẳng thọ hưởng cam lồ Hồi hướng Cầu cho tất cả chúng sanh an lành vãng sanh cực này có ba điểm cốt lõi Tâm thành, kinh chú, thân khẩu y thanh lập bàn cúng Thí thực Thông thường là phải có 2 hai bàn một bàn cao và một thấp hơn gọi là bàn thượng và bàn hạ _ Bàn thượng Tôn trí tượng Phật, hay tượng Bồ Tát, nhưng thông thường là tượng ngài Tiêu Diện ại Sĩ hóa thân của ngài Quán Thế Âm, lư hương, đèn, hoa, quả, ly nước Bàn hạ bàn đồ ăn cũng trang trí lư hương, đèn, bông, trái, ly nước trong, ly đề pha nước trà, một bình trà cúng. Phía sau dãy đồ thờ là một mâm cơm cúng gồm đủ đồ ăn như cúng linh, ngoài ra còn có một nồi cháo thật lõng cháo thánh, một dĩa lớn hoặc một khay gồm muối hột, gạo, đường thẻ. . . đây là thành phần chính yếu, nếu có thêm các thứ khác như bắp, khoai lang, củ mì, bánh tráng, trái cây . . càng nhiều càng tốt.*Nếu có điều kiện và khả năng thì lập thêm một bàn nữa phía trước bàn đồ ăn. Bàn nầy cao hơn bàn đồ ăn, nhưng thấp hơn bàn Tiêu Diện một chút. Trên bàn nầy tôn trí tượng ngài ịa Tạng, lư hương, đèn, bông, trái như các bàn lại, hai bàn thượng là bàn Phật, Bồ Tát nên trang trí đơn giản, trang nghiêm và không để đồ ýa Bàn thí thực luôn luôn lập ngoài nhà, trước cửa chính, nhìn vào bàn Phật trong nhà, tín chủ lạy hướng từ trong nhà lạy ra, cách thức lạy như lạy linh. Thí thực được cúng tại tư gia sau khi có lễ cầu an, cầu siêu hoàn Bàn thí thực Cô hồn không được lập gần cây thạch lựu, hoặc cây đào vì Quỷ sợ loại cây Trước bàn thí thực phải dành một khoảng trống; ít nhất là bằng một chiếc chiếu để quí vị Quỷ Thần, Cô hồn có chỗ lễ bái chư Phật và thọ thực không bị chướng ngại. Khi hương đã thắp lên rồi thì không nên đi qua, lại trong vùng nầy, mà chỉ nên đi hai bên. Chủ lễ Cư sĩ nên đứng sau chiếu dành cho các vị Quỷ Thần và Cô hồn. Nếu trai đàn chẫn tế, lược khoa thì khoảng trống nầy ở trước bàn Giác Hoa, và nên dùng loại dải vải vàng để làm ranh giới khu vực Thực phẩm cúng Nếu có cúng rau; nên cúng rau chín như rau luộc hoặc nấu canh, không được cúng rau sống. Cháo thánh phải nấu thật lỏng nhiều nước, nhưng ít gạo. Không nên lấy cơm rồi cho nước vào để làm Ban Nghi lễ và người tham dựa Trong suốt thời gian cung hành nghi lễ, tất cả mọi người không được ăn hay uống bất cứ món gì. Ngoại trừ thời gian nghỉ ngơi đã được qui định trong nghi Phải hành lễ theo đúng thứ tự mà nghi thức đã qui định, không được đảo lộn như thỉnh Cô hồn trước rồi thỉnh chư Phật và Bồ Tát sau. Tuy nhiên được phép thay đổi các bài thỉnh, nhưng nội dung vẫn không Vị phụ trách hương đăng phải cắm hương sau mỗi lần thỉnh vào đúng lư hương của chư Bồ Tát hay Cô hồn như lời cung Nếu có iệp văn nên tuyên đọc sau diên trà thứ đây là những điều rất căn bản, tầm thường. Nhưng chính vì sự tầm thường đó mà chúng ta hay phạm phải và xem nhẹ; trong khi chính mình đang làm công việc đó và là người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả. Do đó chúng tôi viết lên những dòng chữ nầy với một ước nguyện duy nhất là mong quí vị Cư sĩ đang có trách nhiệm nghi lễ để duy trì mạch đạo và bảo tồn một phần truyền thống văn hóa của dân tộc hãy lưu tâm, hầu ứng phú hửu hiệu trong mọi hoàn cảnh. Cao hơn cả là chẩn tế cô hồn, chú trọng đến siêu độ cho các âm linh oan hồn uổng tử, bất đắc kỳ tử, bất định nghiệp, chiến sĩ trận vong không nơi nương tựa. Không những thí thực mà còn một lòng mong cứu độ cho chư vị thoát khỏi cảnh khổ nghiệp ác của cõi ngạ quỷ cô hồn. Một khoa nghi nhiều lợi lạc nhất nhưng rất khó thực hiện, vì phải đòi hỏi tinh thông cả hai mặt, kinh điển và mật điển. Mật điển của khoa Du Già là Tam Mật đồng tu Thân kiết ấn, Khẩu trì chú, Ý quán tưởng. Ấn là Pháp thân, Chú là Báo thân, Kinh văn là Hóa thân. Thành tâm cầu nguyện thập phương Tam bảo gia hộ, tam nghiệp thanh tịnh, phát khởi tam tâm từ bi, hỷ xã, bình đẳng độ thoát địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh tam đồ khổ não, chúng sanh đồng sanh an dưỡng. Có thể nói đây là một pháp hành trì mà âm cảnh và dương gian đồng lợi lạc. Phần nghi lễ thường do một số thầy thuần thục khoa nghi Du già ngồi đànCung trần pháp đàn chẩn tế àn tràng tiếng Phạn là Mạn đà la, có nghĩa là một chỗ ngồi, một cuộc đất, lại còn có nghĩa là Luân viên cụ túc. Tức là lập một cái đàn bằng đất cao, vuông hoặc tròn đặt chư tôn lên đó mà cúng tế. Trên đàn tập trung đầy đủ chư tôn, chư đức, tạo thành một đại Pháp môn, một bánh xe tròn trặn, lại còn có nghĩa nơi tụ hội của thánh hiền, muôn đức đều quay về. Vậy cung trần pháp đàn chẩn tế là bày biện, sắp xếp vị trí hành lễ chẩn tế tròn đầy trang nghiêm theo khoa nghi. Thứ tự từ trong ra như sau1/ Bàn Phật Cung thỉnh tượng Phật Thích Bàn kinh Kinh sách, chuông mõ, pháp Tham lễ Giác Hoàng Chủ sám vào bạch Phật, đội nón Tỳ Lư Nón Tỳ Lư tỳ Lư là tên gọi tắc của Tỳ Lư Giá Na tên chung của Pháp thân Phật tức là đức ại Nhật Như Lai của Mật giáo. Vị Tăng thủ tọa đội nón Tỳ Lư đứng làm đức Phật Tỳ Lư Giá Na ại Nhật Như Lai tụng kinh thí thực trong lễ Vu Lan. Do đó nón này các gia trì sư đội trong các lễ trai đàn chẩn tế, bạt độ và tang lễ của Phật giáo Việt nam4/ Màn Sư tử toà Sư tử tọa là chỗ ngồi của là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải là Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ ở đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất... thì những chỗ đó đều gọi là sư tử tòa. Vậy bức màn sư tử tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị gia trì sư, tượng trưng chỗ ngồi của Bảo tọa Chỗ ngồi của gia trì sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương chánh pháp. Theo khoa nghi trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất nghiêm trang. Sau khi cung thỉnh ngũ phương Phật xong, vị chủ sám đến trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng vào vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh sám chủ đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Vị chủ sám đáp lời và xin phép chư Phật cho đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống Bát Nhã để cung nghênh bằng động tác vổ thủ xích, chuông trống Bát Nhã cử hành, sám chủ quay về trái thượng bảo tọa. Kinh sư vào vị trí bàn kim Màn song khai Trước bảo tọa là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo quy định trong khoa Bàn kim đài Kinh sư ngồi hai bên tả hữu, mỗi bên ba hay bốn người. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có đội nón Tỳ Lư hay không và xử dụng pháp khí tan hay đẩu tùy theo địa Bàn giác hoa Giác Hoa ịnh Tự Tại Vương Như lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời quá khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có mọt cô gái Bà la môn, nhân mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa ịnh Tữ Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gaí ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh địa ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của ịa Tạng Bồ ngoài cócác bàn ngũ phươngNgũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật tông; và là sự phối hợp giữa ngũ phương, ngũ trí, ngũ Phật, ngũ bộ và ngũ hành trong Thai tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Do đó đàn tràng ngũ phương cũng được lập hai cách khác nhaua/ Lập theo trung khoa Du Già1/ Trung ương Tỳ Lô Giá Na ại Nhật Như Lai Hiển thân sắc màu vàng, đối diện bàn Giác Phương ông A Súc Phật Bất ộng Như Lai Hiển sắc màu xanh, trở mặt vào bàn trung Phương Tây Phật A Di à. Hiển sắc màu trắng, trở mặt vào bàn trung Phương Nam Bảo sanh Phật. Hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào bàn trung Phương Bắc Bất Không Thành Tựu Phật. Hiển sắc màu đen, trở mặt vào bàn trung Lập theo Kim Cang Giới Mạn à La1/ Trung ươngTỳ Lô Giá Na Phật- Phật giới thể tánh trí, thân sắc màu Phương ông A Súc Phật- Kim Cang viên cảnh trí, thân sắc màu xanh hoặc màu Phương Tây A Di à Phật- Liên Hoa bộ. Diệu quan sát trí, thân sắc màu Phương Nam Bảo Sanh Phật- Bảo đẳng tánh trí, thân sắc màu Phương Bắc Bất Không Thành Tựu Phật- Yết Ma sở tác trí, thân sắc màu lục Sở dĩ có sự khác biệt về thân sắc của ngũ phương Phật là do nhiều nguyên nhân như Truyền bá đến các nước Phật giáo bằng nhiều đường khác nhau, ảnh hưởng truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc, tiến trình kết cấu và phát triễn Mạn à ra ấn tướng của chư Phật trong ngũ phương cũng có khác nhau theo sự phát triễn không ngừng của triết học Mạn à La. Nhưng đây chỉ là những dị biệt nhỏ về hình thức, còn nội dung và mục đích tu chứng hoàn toàn không có gì thay Phía sau Ngũ phương Phật là1/ Bàn ịa Tạng đồng hướng và cao như bàn Trung ương2/ Bàn hộc thực thấp hơn, để đồ cúng3/ Bàn Tiêu Diện cao hơn bàn ịa Tạng Ngũ phương, ịa Tạng và Tiêu Diện là bảy vị Phật độ cô hồn nhập đàn tràng thọ hưởng pháp lạc. Thường tại chùa hay tư gia có thờ Phật, chỉ lập đàn tràng từ màn Sư tử tòa đến bàn Tiêu Diện trên rạp tiền chế. Nếu không đủ sứ chẩn tế thì cúng lược khoa phần kinh chú nhẹ hơn, phần đàn tràng khỏi lập ngũ Ộ Giải oan Bạt độ có nghĩa là cỡi bỏ oan khiên trói buộc, nhổ sạch phiền não đưa hương linh qua sông mê về bến giải oan Bạt độ mang một tính cách vô cùng quan trọng là ta luôn nghĩ đến những oanhồn uổng tử, những bất đắc kỳ tử trong thân thuộc giòng họ đang chơi vơi nơi cảnh ngạ quỷ cô hồn chưa được siêu thoát mong được hoá giải cứu độ. Trong hành lễ, Sám chủ xử dụng ấn chú và cây Tích trượng trong hình thức giải oan Triệu thỉnh, Phá địa ngục, Giải tội khiên, Sám hối, Quy y . Cây Tích trượng còn có tên là Thanh trượng, Minh trượng, Trí trượng hay ức trượng. Hiển giáo dùng làm gậy khi đi khất thực và đuổi trùng thú. Theo Tích trượng kinh -Tích trượng của Phật Ca Diếp có hai gọng và 12 vòng tượng trưng cho hai đế chơn đế và tục đế và thập nhị nhân duyên. -Tích trượng của Phật Thích Ca có 4 gọng và 12 vòng tượng trưng cho tứ đế và thập nhị nhân Mật giáo thì cho đó là cây Thập Pháp Giới do 5 đại tạo thành, là hình Tam Muội Da của đức ịa Tạng có 6 vòng tượng trưng lục độ, trên đầu gậy có 5 bánh xe tượng trưng Bảo tháp. Hình thức dẫn độ hương linh qua cầu từ bến mê về bờ giác, bẽ gảy chiếc cầu giữa đôi đường mê giác, ân cần nhắc nhở chư hương linh đoạn tuyệt với quá khứ xấu xa, chuyên tâm tu hành thánh đạo” oạn nhất thiết ác, tu nhất thiết thiện, độ nhất thiết chúng sanh”. Hơn nữa, trong kinh Pháp Cú, Phật cũng đã dạy”Tâm dẫn đầu, tâm làm chủ các trạng thái tâm lý và hành vi”.Nếu con người hành động hay nói năng với một tâm ác xấu thì khổ não sẽ lê bước theo sau người ấy như bánh xe lần theo dấu chân của con bò kéo xe. Ngược lại nếu con người hành động bằng tâm thiện lành thì hạnh phúc sẽ đuổi theo người ấy như bóng không rời hình” Với tâm thiện lành từ đây chắc hẳn âm linh thoát khỏi cảnh khổ phiêu bồng, chúng ta cũng không còn dây dưa với nghiệp cảm ấy nữa. Ngoài ra chúng ta còn có những cách bạt độ khác thuần túy như quy y linh, vớt vong, thuyết 1. Dẫn nhập Trong chân lý giới hạn chân lý thế gian hay tục đế, saṁvṛti-satya, thế giới quan của Phật giáo gồm có ba cõi trayo dhātavaḥ là - Dục giới kāma-dhātu, - Sắc giới rūpa-dhātu - Và vô sắc giới ārūpya-dhātu; Hay lục đạo ṣaḍakula là - Địa ngục đạo narakagati, - Ngạ quỷ đạo pretagati, - Súc sanh đạo tiryagyonigati, - A-tu-la đạo asura-gati, - Nhân gian đạo manuṣya-gati - Và Thiên đạo deva-gati. Tam giới hay lục đạo luân hồi có vô lượng vô biên thế giới. Mỗi thế giới cũng có vô lượng vô biên chúng sinh sinh sống. Tùy theo nghiệp karman của mình đã gây tạo bằng hành động, lời nói và ý nghĩ thông qua thân kāya-karma, miệng vāk-karma, và ý manas-karma mà chúng sinh nhận lấy một cảnh giới hay một hoàn cảnh sống tương ứng. Nếu nghiệp thiện kuśala thì sẽ tương ứng với cảnh giới thiện, đó là a-tu-la, người và trời; nếu nghiệp bất thiện akuśala thì sẽ tương ứng với cảnh giới bất thiện, đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cảnh giới bất thiện là cảnh giới mà chúng sinh trong đó có hoàn cảnh sống hoàn toàn phải chịu khổ đau, nhưng cảnh giới thiện không có nghĩa là chúng sinh ở trong đó hoàn toàn hưởng thụ hạnh phúc. Theo Phật giáo, chúng sinh sống trong phạm vi ba cõi đều phải chịu khổ đau, mà nỗi khổ đau lớn nhất là phải trôi lăn trong đêm dài tăm tối sinh tử luân hồi. Khổ đau có rất nhiều nguyên do, nhưng gốc rễ chính là tam độc tham lam rāga, giận hờn dveṣa và si mê moha, hay vô minh avidyā. Muốn thoát khỏi khổ đau cần phải nhổ tận gốc rễ tam độc. Mục đích cứu cánh của Phật giáo là ly tham, giải thoát. Để đạt được mục đích cứu cánh ấy, Phật dạy tám vạn bốn ngàn pháp môn, và pháp môn nào cũng phải đi qua Giới, Định và Tuệ. Tựu trung có ba con đường đi đến giác ngộ giải thoát là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Thiền tông chú trọng tự lực. Tịnh độ tông chú trọng tha lực. Mật tông thì phối hợp cả tự lực và tha lực. Trai đàn bạt độ là một hình thức tổng hợp sức mạnh của tự và tha ấy. 2. Ý nghĩa đàn tràng Trai đàn 齋壇 có nghĩa là một đạo tràng thanh tịnh. Bạt là nhổ lên, độ là vượt qua, thoát khỏi. Trai đàn bạt độ là một đạo tràng thanh tịnh được tổ chức để nhổ bật gốc rễ của lòng tham để vượt qua các nẻo luân hồi. Về hình thức, trai đàn được bố trí theo một hình thức đơn giản của một trong hai bộ mạn-đà-la maṇḍala, đó là Kim cang giới mạn-đà-la vajradhātu-maṇḍala biểu tượng cho trí tuệ sở chứng của Phật, hay Thai tạng giới mạn-đà-la garbhadhātu-maṇḍala biểu tượng cho phương tiện độ sinh của Ngài. A - Kim cang giới mạn-đà-la có dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân candra-maṇḍala. Bên trong hình tròn được sắp xếp như sau - Chính giữa là vị trí đức Đại Tỳ-lô-giá-na, hay Đại Nhật Như-Lai MahāVairocana-Tathāgata. Đó là Pháp thân Phật DharmakāyaBuddha, như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp cả vũ trụ. Trong năm đại pañcadhātu, Ngài biểu tượng cho không đại ākāśadhātu, và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn vijñāna-skandha. Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh trí dharma-dhātu-svabhāva-jñāna. - Phương đông là A-Súc-Bệ Phật Akṣobhya, hay Bất-Động Như Lai với các biểu tượng Phong đại vāyu-dhātu, nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn saṃskāra-skandha, động cơ tạo tác của các loại hữu tình; đại viên cảnh trí ādarśa-jñāna, như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế giới. - Phương Nam là Bảo Sinh Phật Ratnasambhava với các biểu tượng hỏa đại tejo-dhātu, khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sinh và thế giới; tưởng uẩn saưjñā-skandha, khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; bình đẳng tánh trí samatā-jñāna, khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và pháp. - Phương tây là A-di-đà Phật Amitabhā thủy đại ab-dhātu, khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn vedana-skandha, khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; diệu quán sát trí pratyavekśaṇā-jñāna, nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy diệt. - Phương bắc là Bất Không Thành Tựu Như lai Amoghasiddhi địa đại pṛthivī-dhātu, khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn rūpa-skandha, tác thành thế giới hữu tình; thành sở tác trí kṛtyānuṣṭhāna-jñāna, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sinh. Mỗi đức Như lai đều có bốn Bồ tát thân cận. Tất cả là mười sáu Đại bồ tát. Ngoài ra, nội đàn có bốn cúng và ngoại đàn bốn cúng; tất cả tám cúng dường bồ-tát. Cùng với bốn Nhiếp bồ tát nữa. Cơ bản, Kim cang giới mạn-đà-la có tất cả ba mươi bảy tôn vị. B- Thai tạng giới biểu hiện đại bi tâm của Phật, từ đó lưu xuất tất cả các phương tiện độ sinh. Từ Thai tạng giới, vạn pháp được thai nghén và dưỡng dục, cho đến thành tựu các phẩm chất siêu việt của đại trí và đại bi. Do đó, đàn tràng của Thai tạng giới được hình dung là một đóa sen có tám cánh. Đóa sen tám cánh này chính là hình ảnh trái tim bằng thịt của chúng sinh. Đại bi tâm không phải là một khái niệm trừu tượng, nhưng là sự rung động của trái tim bằng thịt ấy. Hoa sen, theo ý nghĩa nhân quả đồng thời, nghĩa là khi chúng sinh vừa phát tâm bồ-đề, ngay lúc ấy Phật quả đã được thành tựu. Bởi vì, trong thể tính tuyệt đối, ý niệm về thời gian và không gian không tồn tại. Từ ý nghĩa đó, tám cánh sen gồm bốn Đại Bồ tát, và bốn đức Như lai, biểu hiện nhân cách của nhân và quả; tất cả đều phát xuất từ thể tính của Đại Nhật Như lai vốn là đài sen, ở trung tâm của mạn-đà-la. Bốn đức Như lai, theo thứ tự từ Đông qua Bắc như sau - Phương đông, Bảo Tràng Phật Ratnaketu. Ngài là hình ảnh của bồ đề tâm bodhicitta. Bảo tràng làm tiêu xí cho sự phát bồ đề tâm. Dưới cội bồ đề, Như lai đã dương cao tiêu xí này mà đánh bại binh chúng Ma, thành tựu Vô thượng Chánh giác. - Phương nam, Khai Phu Hoa Vương Như lai Kusumita-rāja, an trụ trong ly cấu tam-muội vimala-samādhi, bằng hạt giống bồ-đề tâm mà vun trồng và phát triển thành vô số hành động của đại bi, như đóa hoa nỡ rộ. - Phương tây, Vô Lương Thọ Như lai Amitayus, biểu hiện Báo thân hay Thọ dụng thân của Phật Sambhoga-kāya, kết quả của vô số công đức tu tập, với hình ảnh hoa sen hàm tiếu. - Phương bắc, Thiên Cổ Lôi Âm Phật Divyadundubhi, biểu hiệu phẩm tính của Niết bàn; được ví dụ như chiếc trống trời, vốn không hình tướng nhưng âm vang rền xa. Đó là pháp âm của Như lai được công bố. Ở bốn phương góc là bốn Đại Bồ tát. Phương đông nam, Phổ Hiền Bồ-tát Samantabhadra. Đông bắc, Quán Tự Tại Bồ-tát Avalokiteśvara. Tây nam, Diệu Cát Tường Đồng tử Mañjuśrì-kumàra. Tây bắc, Từ Thị Bồ-tát Maitreya. Chung quanh trung đài bát diệp viện gồm bốn lớp, mỗi lớp có bốn viện. Mỗi viện biểu thị một phương diện độ sinh của Phật. Cả hai bộ mạn-đà-la cũng có thể tượng trưng như hai bàn tay. Bàn tay mặt là Kim cang giới. Từ ngón út cho tới ngón cái, theo thứ tự Về năm uẩn, ngón út là sắc uẩn, và lần lượt là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Về năm đại, năm loại trí, và năm vị Như Lai cũng theo thứ tự tương xứng đó. Về các ba-la-mật, tính từ ngón út bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn cho đến ngón cái là thiền định ba-la-mật. Bàn tay trái là Thai tạng giới; cũng tính từ ngón út cho đến ngón cái theo thứ tự, với năm đại, năm uẩn, như bàn tay mặt. Về các ba-la-mật huệ, phương tiện, nguyện, lực và trí. Như vậy, khi hai bàn tay hiệp lại, trọn vẹn cả bi và trí của Phật. Đàn tràng chẩn tế được bố trí dựa trên căn bản vũ trụ luận khái lược, với một ít thay đổi. Đơn giản mà nói, đàn tràng được bố trí như là thâu gọn thế giới vũ trụ thành một thực tế hiện hữu cụ thể trước mắt. Mục đích của sự bố trí này là cốt khai triển năng lực gia trì hổ trợ của Phật adhiṣṭhānādhiṣṭhita. Mật giáo nói Phật thể hiện phương tiện độ sinh của Ngài bằng vào uy lực gia trì. Gia trì về ba phương diện, mà thuật ngữ gọi là “tam mật du-già”, tương xứng theo ba hành nghiệp của một chúng sinh thân, miệng và ý. Sự gia trì, tức uy lực hỗ trợ của Phật, được thể hiện nơi thân của một chúng sinh qua các tư thế ngồi và các thủ ấn, nghĩa là các ngón tay của hai bàn tay giao nhau trong một tư thế nào đó đã quy định. Gia trì nơi miệng được thể hiện qua sự tụng niệm các chân ngôn. Ý mật gia trì nhờ sự quán tưởng về hình tướng Phật, hay các văn tự theo lối viết Brahmì, mà trong Phật giáo gọi là tự mẫu tất-đàm siddhaṃ. Tổng hợp sức mạnh của “tam mật du-già” sẽ tác động lên tâm thức của chúng sinh khiến tâm thức ấy chuyển hóa mọi tâm lý tham lam, giận hờn, si mê, biết lắng nghe, thấu hiểu, biết buông bỏ mọi oán thù oan trái… để hướng tâm đến vô ngã, vị tha, và ngay đó chúng sinh được giải thoát. 3. Đối tượng của đàn tràng Đối tượng chính của trai đàn bạt độ là chúng sinh trong đường ngạ quỷ, mà chúng ta vẫn thường nói nôm na là ma hay cô hồn. Đó là những người chết chưa được siêu thoát. Những người đó có thể là cha, mẹ, anh, em, bà con của chúng ta. Du-già tập yếu Diệm khẩu thí thực nghi, Đại tạng kinh Đại chính tân tu, tập 21, tr. 483b, liệt kê tất cả mười loại cô hồn, như sau 1. Thủ hộ quốc giới những oan hồn vị quốc vong thân, tức những chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc, nhưng nói chung là tất cả những người tử trận ở cả hai đầu chiến tuyến. 2. Phụ tài khiếm mạng chết vì oan gia trái chủ, nợ nần, trụy thai. 3. Khinh bạc Tam bảo bất hiếu, bội nghịch vô đạo. 4. Giang hà thủy nịch thương khách chết sông, chết biển. 5. Biên địa tà kiến những người sống tại biên ải hẻo lánh. 6. Ly hương khách địa cô khổ phiêu bạt, chết đường chết xá, những người vì hoàn cảnh nào đó phải rời bỏ quê hương đi tìm con đường sống, phải vượt biên và đã bỏ mình oan uổng giữa biển khơi muôn trùng… 7. Phó hỏa đầu nhai tự tử, nhảy sông, nhảy núi, chết đâm, chết cháy, chết do tai nạn giao thông… 8. Ngục tù trí mạng chết trong ngục tù. 9. Nô tì kết sứ nô lệ cùng khổ, chết vì đày đọa lao dịch. 10. Manh lung ám á đui, què, câm, điếc, không người chiếu cố. Các khoa nghi khác còn kể thêm một số cô hồn nữa, như vua chúa, quan văn, quan võ của các triều đại, chết do tai nạn bị cướp ngôi hay nuôi mộng nhất thống giang hà nhưng chưa thành tựu; sinh viên học sinh ngày đêm học tập nuôi mộng công danh nhưng nửa chừng chết yểu; các tu sĩ, đạo sĩ vì một số lý do nào đó hoặc chưa ngộ đạo nên cứ quanh quẩn nơi chùa xưa, miếu cũ một thời họ sinh sống. Những chúng sinh trong đường ngạ quỷ phải chịu cảnh sống vô cùng khổ đau. Một mặt, do vì nghiệp duyên đã gây tạo, dù đã chết nhưng họ vẫn cứ mãi ôm ấp hận thù, quyến luyến đời sống thế gian, tham tiếc tài sản… ; một mặt không người thờ cúng, nhớ tưởng nên họ sống trong cảnh lạc loài, bơ vơ, chẳng người thương nhớ, chẳng chỗ nương nhờ, chẳng người cúng tế… Do đó, chúng sinh trong đường ngạ quỷ đói khát về vật chất lẫn tinh thần. Đức Phật với tấm lòng từ bi mẫn, xót thương tất cả chúng sinh, nên đã phương tiện thuyết ra nhiều pháp môn nhằm cứu bạt nỗi khổ đau của mọi loài, trong đó khoa nghi trai đàn bạt độ là pháp thức đặc biệt để cứu độ chúng sinh đường ngạ quỷ. Khi thực hiện pháp sự này, nhờ uy lực của “tam mật du-già” mà chúng sinh trong đường ngạ quỷ được an ủi vỗ về bằng những lời kinh tiếng kệ được tán thỉnh lên bằng giọng ai rất tha thiết, thấm đậm tình người, nhưng cũng đầy triết lý mầu nhiệm của Phật pháp thâm sâu, đồng thời họ cũng được dự một bữa tiệc chay no nê sau bao tháng năm đói khát khốn cùng. “Pháp lực bất tư nghì, từ bi vô chướng ngại, thất liệp thập phương, phổ thí châu sa giới”. Sức mạnh của pháp Phật không thể nghĩ bàn, với lòng từ bi không chướng ngại, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, buổi pháp thí trong hội vô giá có thể biến bảy hạt cơm tràn đầy cả mười, làm no đủ cho hằng hà sa số chúng sinh. 4. Kết luận Trai đàn chẩn tế kỳ siêu bạt độ là một pháp môn tu trong vô lượng pháp môn. Nó là một hình thức bố thí, gồm cả tài thí lẫn pháp thí. Dĩ nhiên, sự bố thí tài vật trong đàn tràng, mặc dù con mắt phàm tục của người sống thấy chẳng có một chút hư hao, nhưng tất cả đều đã được chúng sinh trong đường ngạ quỷ thụ dụng, và họ thụ dụng bằng phương pháp thức thực và cả tư niệm thực nữa. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là pháp thí. Bởi chỉ có pháp thí mới giúp chúng sinh nhận được tài thí, và chỉ có pháp thí mới giúp chúng sinh thoát khỏi cảnh giới khổ đau, siêu sinh về miền tịnh độ. Đối tượng chính của trai đàn bạt độ là chúng sinh trong đường ngạ quỷ, nhưng trong những chúng sinh ấy, biết đâu chừng có cả ông, bà, cha, mẹ, anh, em, bà con, bạn bè… của chúng ta? Dù không phải là họ hàng thân thích, thì trên mảnh đất này, biết bao người đã nằm xuống cho chúng ta sống còn? Và dù những chúng sinh ấy không liên hệ gì đến chúng ta, nhưng họ đang đói rách bơ vơ thế kia lẽ nào mình lại ngoảnh mặt làm ngơ ? Cho nên, pháp hội trai đàn bạt độ là một cách để chu tất món nợ ân tình giữa người còn sống với người đã chết. Bao nhiêu oan trái, hận thù vùi chôn dưới lòng đất, chìm sâu dưới đáy biển muôn trùng hay ẩn nấp đâu đó trong tâm hồn của người chết lẫn người sống, thì hôm nay, trong hội vô giá cam lồ này, nguyện nhờ lời kinh tiếng kệ mà hóa giải oan khiên thành tình thương yêu, sự hiểu biết và lòng cảm thông, tha thứ. Xin nguyện biến oan khiên thành ân nghĩa. Ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân của trời đất, ân của đồng loại. Ân nghĩa ấy đã thắt chặt tình người qua bao nhiêu kiếp! Ý Nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn Trong các lễ cúng thí Cô hồn, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật Giáo Đại thừa Mật Tông được gói trọn vào đây. Về hình thức, trai đàn nầy dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn đà la mandala. Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn nầy là căn bản vũ trụ luận của Mật Giáo. Thông thường có hai bộ mạn đà la. Kim Cang giới mạn đà la Vajradhàtu-mandala biểu tượng cho trí huệ sở chúng của Phật. Thai tạng giới mạn đà la garbhadhàtu-mandala biểu tượng cho phương tiện độ sanh của Ngài. Mỗi mạn đà la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo. Chủ điểm đáng ghi nhớ nhất, đại lược như sau Trước hết, chúng ta nên biết rằng theo quan điểm truyền thống Phật giáo, vũ trụ gồm hai thành phần. Một đằng là nhân cách, tức lấy con người hay các loài hữu tình làm bản vị, mà trên hết, lấy nhân cách của Phật làm biểu hiệu cho bản thể tuyệt đối. Đằng khác nữa, là thế giới của nhân cách, là những pháp sở chứng và thọ dụng bất khả tư nghị của Phật. Nhân cách có năm yếu tố, gọi là năm uẩn sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng tập họp lại thành một bản ngã giả tưởng nên được gọi là uẩn. Thế giới của nhân cách được cấu tạo bởi năm yếu tố, gọi là năm đại địa, thủy, hỏa, phong và không. Trên cơ sở giáo nghĩa nầy, trước hết mạn đà la của Kim cang giới được thiết lập để biểu hiện trí huệ sở chứng của Phật. Kim cang là loại chất rắn không bị bất cứ gì hủy hoại được. Do đókim cang được vận dụng như một khái niệm cụ thể hóa yếu tính tồn tại của Phật thân, gọi là kim cang bất hoại thân vajrasauhatanakàya. Thân ấy, cũng như thân của tất cả mọi loài chúng sinh, đều do năm uẩn và năm đại cấu thành. Nhưng tồn tại của Phật thân không khác biệt với hoạt dụng của Phật trí. Do đó, năm đại tương ứng với năm trí. Và nhân cách của Phật, như là chỉnh thể thống nhất của tồn tại và nhận thức, được biểu hiện thành năm đức Như Lai tương ứng, tức Ngũ Trí Như Lai, hay năm vị Thiền Phật sẽ nói rõ ở phần Ngũ Phương Phật. Sau đây sẽ mô tảsơ lược một trai đàn chẩn tế từ trong ra ngoài Từ trong ra. NỘI ĐÀN 1. Bàn Phật Tại chùa có Chánh điện, tại tư gia có Bàn thờ Phật là nơi Tham Lễ Giác Hoàng 2. Bàn kinh Nơi để nghi thức, chuông mõ, pháp khí. NGOẠI ĐÀN 1. Màn Sư tử tòa Sư tử tòa là chỗ ngồi của Phật. Phật là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất. . . thì những chỗ đó đều gọi là Sư Tử Tòa. Vậy bức màn Sư Tử Tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật. 2. Bảo Tọa chỗ ngồi của Gia Trì Sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương Chánh pháp. Theo khoa nghi, trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất trang nghiêm. Sau khi cung thỉnh Ngũ Phương Phật xong , vị chủ sám đến đứng trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng ở vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh Vị Gia Trì Sư đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Sau khi vị Gia Trì Sư đáp lại và xin chư Phật cho phép đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống bát nhã bằng động tác vỗ vũ xích, chuông trống bát nhã cử hành, Vị Gia Trì Sư quay về trái đi lên bảo tòa. Kinh sư vào vị trí bàn kim đài. 3. Màn song khai Trước bảo toạ là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo lúc qui định trong khoa nghi. 4. Bàn kim đài Kinh sư ngồi hai bên tả hữu mỗi bên ba hay bốn vị. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có một vài sự đổi thay nhỏ tùy vùng xử dụng tang và mõ. Huế, kinh sư ngồi ghế để đầu trần. Bình Định, kinh sư ngồi xuống chiếu, đầu đội tỳ lư, xử dụng 2 đẩu giống cái tang nhưng không có cán và mõ. Miền nam, kinh sư ngồi ghế đầu trần, xử dụng 2 đẩu và mõ. 5. Bàn Giác Hoa Giác hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời qúa khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có một cô gái Bà la môn, nhơn mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gái ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh điạ ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát. 6. Các án Ngũ phương Phật Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật Tông, Ngũ phương Phật là sự phối hợp giữa Ngũ phương, Ngũ Trí, Ngũ Phật, Ngũ Bộ và Ngũ Hành trong Thai Tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Theo sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay trong Trung Khoa Du Già Tập Yếu khắc bản năm Mậu Tý triều Vua Đồng Khánh và bài viết “LỄ THÁNG BẢY cho những oan hồn phiêu bạt” của Thầy Tuệ Sĩ, đàn tràng Chẩn tế tại Việt Nam được cung trần theo Kim Cang Giới Mạn Đà La. Chúng tôi xin trình bày khái quát như sau Kim cang giới mạn đà la là thuyết minh hoạt dụng của trí huệ sai biệt trong lý tính không sai biệt, do đó Ngũ trí Như lai là trọng tâm của mạn đà la nầy. Hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân candramandala. Bên trong hình tròn nầy thiết lập các biểu tượng của năm vị Như Lai. Án Trung ương Chính giữa là vị trí Đức Phật Tỳ Lô Giá Na tức Đại Nhật Như Lai Mahà Vairocana – Tathàgata hiển thân sắc màu vàng, đối diện với bàn Giác Hoa. Đó là Pháp thân Phật Dharmakàya Buddha, như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp vũ trụ. Trong năm đại, Ngài biểu tượng cho không đại àkàzadhàtu, và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn. Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh trí. Bốn phương chung quanh Ngài Đại Nhật Như Lai là vị trí của bốn đức Như Lai, theo thứ tự từ Đông qua Nam cho đến Bắc mà quý vị trong khoa Chẩn Tế thường nói cho dễ nhớ Tả Đông, Nam. Hữu Tây; Bắc từ trong đi ra theo chiều kim đồng hồ, tức bên tay trái là phương Đông và Nam, bên tay phải là phương Tây và Bắc như sau Án Phương Đông A Súc Phật Akwobhya hay Bất Động Như Lai, hiển sắc thân màu xanh, trở mặt vào án Trung ương với các biểu tượng Phong đại vàyu-dhàtu, nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn động cơ tạo tác của các loại hữu tình; Đại viên cảnh trí, như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế giới. Án Phương Nam Bảo Sanh Phật Ratnasambhava, hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào Trung ương với các biểu tượng Hỏa đại tejo-dhàtu, khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sanh và thế giới; tưởng uẩn, khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; Bình đẳng tánh trí, khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và pháp. Án PhươngTây A Di Đà Phật Amitabhà, hiển sắc màu trắng, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Thủy đại, khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn, khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; Diệu quan sát trí, nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu, của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy diệt. Án Phương Bắc Bất Không Thành Tựu Phật Amoghasiddhi, hiển sắc màu đen, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Địa đại, khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn, tác thành thế giới hữu tình; Thành sở tác trí, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sanh. Phía sau Ngũ phương Phật là 1. Bàn Địa Tạng đồng hướng với Trung ương 2. Bàn hộc thực thấp, để đồ cúng Cô hồn 3. Bàn Tiêu Diện cao hơn bàn Địa Tạng Cách làm tương ớt xào hay còn gọi là sa tế miền trung sao cho chuẩn hương vị miền Trung sẽ được Món Miền Trung chia sẻ qua bài viết sau đây. Tương ớt xào có hương vị cay nồng, đậm đà, thường được dùng để ăn kèm với nhiều món ăn như hủ tiếu, bún bò, cơm chiên, bánh tráng, bún chả cá, miến gà,…Công thức làm tương ớt xào không khó, nguyên liệu lại dễ tìm. Vậy bạn còn chần chờ gì nữa mà không vào bếp để trổ tài ngay. Xem thêm Bánh xèo6 món ngon tại quảng namCách làm bánh bột lọc Cách làm sa tế miền TrungCách làm sa tế ăn bún bòCách làm sa tế tỏi ớtHọc làm sa tế ớt 1. Hướng dẫn cách làm tương ớt xào Bình Định ngon nhất Hướng dẫn cách làm tương ớt xào Bình Định ngon nhất Nguyên liệu chế biến tương ớt xào Bình Định Cách làm món tương ớt xào Bình Định khá nổi tiếng và được người dân của nhiều vùng, miền khác yêu thích bởi hương vị đậm đà và thơm cay. Để thực hiện tương ớt rim Bình Định, bạn cần chuẩn bị đầy đủ những nguyên liệu sau Ớt tráiCà chuaỚt khôHànhTỏiGia vị Dầu ăn, đường, giấm, muối, rượu… Bạn ơi, cho mình quảng cáo 1 tí nhé! Hiện tại Cửa hàng Món Miền Trung có bán Dừa Sấy Giòn giá tốt nhất thị trường. Có cơ hội hãy ủng hộ mình nhé! Mua ngay Cách làm tương ớt xào Bình Định Bước 1 Sơ chế và luộc ớt Khi mua ớt, bạn nên chọn những quả chín đỏ tươi. Sau khi mua về, bạn đem ớt đi rửa sạch, bỏ cuống rồi vớt ra rổ để ráo nước. Tiếp đến, bạn xẻ dọc ớt ra và bỏ hết hạt ớt vào nồi nước sôi luộc khoảng vài phút, thêm vào nồi chút rượu để ớt giữ được màu đỏ tươi lâu hơn. Khi ớt chín mềm, bạn vớt ớt ra để nguội và giữ lại phần nước luộc ớt nhé. Bước 2 Cách xay nguyên liệu và xào tương ớt Đem hành tỏi đi bóc vỏ, cho cà chua đã rửa sạch cùng ớt luộc vào máy xay, sau đó, tiến hành xay nhuyễn. Trong khi xay, bạn lần lượt cho thêm nước luộc ớt và giấm vào xay cùng tỏi băm nhỏ rồi cho vào chảo dầu phi thơm, đảo đều, cho đến khi hành tỏi săn lại thì nêm vào ít muối, đường và hạt nêm. Sau cùng, bạn đổ hỗn hợp ớt đã xay nhuyễn vào chảo và vặn lửa lớn. Bạn đun đến khi hỗn hợp rút bớt nước thì nêm lại gia vị cho vừa ăn rồi tắt bếp. Đợi tương ớt nguội bạn cho vào lọ thủy tinh để bảo quản nhé. Bạn có thể cho thêm chút dầu ăn vào tương ớt để giữ được lâu hơn. 2. Hướng dẫn cách làm tương ớt xào Đà Nẵng chua ngọt Hướng dẫn cách làm tương ớt xào Đà Nẵng chua ngọt Nguyên liệu chế biến Tương ớt Đà Nẵng có vị cay thanh của ớt tươi, vị chua nhẹ của cà và vị ngọt thanh của đường cát. Cách làm tương ớt xào Đà Nẵng cũng rất đơn giản, trước hết bạn hãy chuẩn bị các nguyên liệu sau 500 gram ớt quả cay4 quả cà chuaHành, tỏi100 gram đường, bột nêm20 gram muối Chuẩn bị ớt cay để làm tương ớt xào Đà Nẵng. Ảnh Internet. Cách làm tương ớt xào Đà Nẵng Bước 1 Sơ chế ớt và cà chua Bước đầu tiên trong cách làm tương ớt xào Đà Nẵng là sơ chế nguyên liệu, bạn đem ớt đi rửa sạch, bỏ cuống, chẻ dọc rồi bỏ hết hạt ớt. Cho ớt vào nồi luộc chín mềm để giảm bớt độ xong, bạn vớt ớt ra để nguội rồi băm nhỏ. Hành tỏi bóc vỏ rồi băm nhỏ, cà chua rửa sạch, băm nhỏ. Các bước sơ chế ớt trước khi làm tương. Ảnh Internet. Bước 2 Cách xào tương ớt rim làm đúng kiểu Đà Nẵng Đặt chảo lên bếp, cho 2 – 3 thìa dầu ăn vào đun nóng, cho tiếp hành tỏi vào phi thơm, sau đó đổ cà chua vào đảo đều. Cho ớt băm vào chảo rồi nêm thêm chút đường, muối, hạt nêm rồi đảo tục xào cho đến khi tương ớt dẻo lại thì tắt bếp và thêm dầu ăn vào. Đảo đều rồi để nguội, sau cùng cho tương ớt vào lọ thủy tinh để bảo quản và dùng dần. Tương ớt Đà Nẵng thường được dùng để ăn kèm với xôi, tré, bánh tráng kẹp, mít trộn,… Tương ớt xào Đà Nẵng có vị cay thanh và chua ngọt nhẹ. Ảnh Internet. 3. Hướng dẫn cách làm tương ớt rim Huế thơm cay Hướng dẫn cách làm tương ớt rim Huế thơm cay Nguyên liệu chế biến Cách làm tương ớt xào Huế có vị cay nồng và mùi thơm nhẹ, là nguyên liệu không thể thiếu trong nhiều món ăn của xứ Huế. Sau đây là những nguyên liệu cần có để thực hiện cách làm tương ớt xào Huế tại nhà 200 gram ớt bột250 gram đường cát trắng250 gram nước mắm ngon150 gram dầu ăn2 củ tỏi lớn Cách làm tương ớt xào Huế Tỏi bạn đem lột vỏ rồi đập dập, cho dầu ăn vào nồi rồi đặt lên bếp, khi dầu sôi bạn cho tỏi vào phi thơm. Khi thấy tỏi chuyển màu vàng, bạn hạ nhỏ lửa rồi cho nước mắm và đường vào. Các bước làm tương ớt xào đậm vị Huế. Ảnh Internet. Dùng đũa khuấy nhẹ cho đường tan hết, khi nước mắm và đường sôi, bạn cho ớt bột vào đảo đều nhé. Bạn đảo đến khi thấy tương ớt sệt lại thì tắt bếp. 4. Cách thưởng thức sa tế miền Trung Cách làm tương ớt xào đúng chuẩn của người miền Trung thật ra cũng dễ thực hiện, đúng không nào! Nhưng, bạn có biết nên kết hợp với món ăn nào để tạo nên hương vị ngon nhất? sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi này với những gợi ý dưới đây. Bún chả cá Bún chả cá là món ăn nổi tiếng tại nhiều tỉnh miền Trung như Đà Nẵng, Huế, Bình Định,…Người ta thường nêm thêm tương ớt xào vào nước dùng của bún chả cá để tăng thêm hương vị đậm đà. Khi ăn món bún này, bên cạnh thường có thêm 1 bát tương ớt xào để chấm kèm với chả cá dai ngon. Đây là cách thưởng thức bún chả cá ngon đúng điệu. Ăn kèm tương ớt xào với bún chả cá để tăng hương vị đậm đà. Ảnh Internet. Gia vị ướp các món nướng Khi nướng thịt hay hải sản, người dân miền Trung thường ướp thêm tương ớt xào để tạo vị đậm đà, cay nồng và màu sắc hấp dẫn cho món nướng. Không chỉ là gia vị để ướp, tương ớt xào còn là nước chấm tuyệt vời của nhiều món ăn như bánh tráng nướng, thịt nướng, bánh tráng kẹp,… Tương ớt xào là lựa chọn hoàn hảo để chấm đồ nướng. Ảnh Internet. Tré trộn sa tế miền trung Tré là đặc sản nổi tiếng của người Bình Định, nguyên liệu chính của tré là tai heo, thịt ba chỉ, thịt bò trộn đều cùng các gia vị, sau đó được gói bằng lá ổi hoặc lá chuối. Khi thưởng thức tré, người dân Bình Định thường trộn đều với tương ớt xào để tré có vị cay nồng, kích thích vị giác người dùng. Ăn kèm món này với bánh tráng nướng giòn nữa thì không còn gì bằng. Tré trộn tương ớt có vị cay nồng kích thích vị giác. Ảnh Internet. Với những hướng dẫn trên đây, hy vọng bạn có thể tự thực hiện cách làm tương ớt xào thơm ngon và cay nồng tại nhà. Tất cả nguyên liệu đều từ thiên nhiên và không dùng chất bảo quản. Tương ớt xào có hương vị đậm đà và chua ngọt nhẹ, thích hợp để ăn kèm với các món bún, ướp thịt, làm nước chấm thịt nướng,…Thay vì mua ở ngoài, khó kiểm tra chất lượng sản phẩm, hãy tự tay chế biến một hũ tương ớt rim thơm ngon, an toàn cho cả gia đình mình sử dụng nhé! Bún bò ăn kèm với sa tế miền trung Bún bò Huế là một trong những đặc sản của xứ Huế, mặc dù món bún này phổ biến trên cả ba miền ở Việt Nam và cả người Việt tại hải ngoại. Tại Huế, món này được gọi đơn giản là “bún bò” hoặc gọi cụ thể hơn là “bún bò giò heo”. Bún bò ở Huế hay được người dân ăn kèm với tương ớt để tăng vị đậm đà của món ăn. Sa tế miền trung ăn kèm với Mỳ Quảng Lần đầu tiên vào Đà Nẵng, đi ăn mỳ Quảng trên đường Đống Đa, thấy lọ tương ớt xào màu rất đẹp nhưng tôi không dám ăn. Đó là bởi “sự ám ảnh” của những loại tương không rõ nguồn gốc ở các quán ăn vỉa hè tại Hà Nội. Nhưng rồi thấy mọi người ăn ầm ầm, nên cũng “liều” cho một thìa nhỏ nhằm làm cho bát mỳ Quảng hấp dẫn hơn. Không ngờ nó quá ngon làm tôi “nghiền” liền. Tương ớt xào ở đây rất đặc biệt, nó khác hoàn toàn với món sa tế xào ở ngoài Bắc và 100% không phải là thứ tương ớt màu nhợt nhợt thông dụng kia. Nó hấp dẫn người ta từ màu sắc đỏ thắm, cay nồng của ớt, thơm thơm của hạt mè hạt vừng lẫn trong đó. Tương ớt xào không những để ăn cùng với các loại mỳ mà còn có thể cho vào cháo trắng hay trộn riêng với cơm. Bài viết tham khảo tại đây Một số từ khóa tìm kiếm liên quan Cách làm sa tế miền TrungCách làm sa tế ăn bún bòCách làm sa tế tỏi ớtHọc làm sa tế ớt Trong các lễ cúng thí Cô hồn, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật Giáo Đại thừa Mật Tông được gói trọn vào hình thức, trai đàn nầy dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn đà la mandala. Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn nầy là căn bản vũ trụ luận của Mật Giáo. Thông thường có hai bộ mạn đà la. Kim Cang giới mạn đà la Vajradhàtu-mandala biểu tượng cho trí huệ sở chúng của Phật. Thai tạng giới mạn đà la garbhadhàtu-mandala biểu tượng cho phương tiện độ sanh của Ngài. Mỗi mạn đà la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo. Chủ điểm đáng ghi nhớ nhất, đại lược như sauTrước hết, chúng ta nên biết rằng theo quan điểm truyền thống Phật giáo, vũ trụ gồm hai thành phần. Một đằng là nhân cách, tức lấy con người hay các loài hữu tình làm bản vị, mà trên hết, lấy nhân cách của Phật làm biểu hiệu cho bản thể tuyệt đối. Đằng khác nữa, là thế giới của nhân cách, là những pháp sở chứng và thọ dụng bất khả tư nghị của Phật. Nhân cách có năm yếu tố, gọi là năm uẩn sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng tập họp lại thành một bản ngã giả tưởng nên được gọi là uẩn. Thế giới của nhân cách được cấu tạo bởi năm yếu tố, gọi là năm đại địa, thủy, hỏa, phong và cơ sở giáo nghĩa nầy, trước hết mạn đà la của Kim cang giới được thiết lập để biểu hiện trí huệ sở chứng của Phật. Kim cang là loại chất rắn không bị bất cứ gì hủy hoại được. Do đó kim cang được vận dụng như một khái niệm cụ thể hóa yếu tính tồn tại của Phật thân, gọi là kim cang bất hoại thân vajrasauhatanakàya. Thân ấy, cũng như thân của tất cả mọi loài chúng sinh, đều do năm uẩn và năm đại cấu thành. Nhưng tồn tại của Phật thân không khác biệt với hoạt dụng của Phật trí. Do đó, năm đại tương ứng với năm trí. Và nhân cách của Phật, như là chỉnh thể thống nhất của tồn tại và nhận thức, được biểu hiện thành năm đức Như Lai tương ứng, tức Ngũ Trí Như Lai, hay năm vị Thiền Phật sẽ nói rõ ở phần Ngũ Phương Phật. Sau đây sẽ mô tả sơ lược một trai đàn chẩn tế từ trong ra ngoàiTừ trong ĐÀNBàn Phật Tại chùa có Chánh điện, tại tư gia có Bàn thờ Phật là nơi Tham Lễ Giác HoàngBàn kinh Nơi để nghi thức, chuông mõ, pháp ĐÀNMàn Sư tử tòa Sư tử tòa là chỗ ngồi của Phật. Phật là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất. . . thì những chỗ đó đều gọi là Sư Tử Tòa. Vậy bức màn Sư Tử Tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Tọa chỗ ngồi của Gia Trì Sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương Chánh pháp. Theo khoa nghi, trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất trang nghiêm. Sau khi cung thỉnh Ngũ Phương Phật xong , vị chủ sám đến đứng trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng ở vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh Vị Gia Trì Sư đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Sau khi vị Gia Trì Sư đáp lại và xin chư Phật cho phép đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống bát nhã bằng động tác vỗ vũ xích, chuông trống bát nhã cử hành, Vị Gia Trì Sư quay về trái đi lên bảo tòa. Kinh sư vào vị trí bàn kim song khai Trước bảo toạ là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo lúc qui định trong khoa kim đài Kinh sư ngồi hai bên tả hữu mỗi bên ba hay bốn vị. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có một vài sự đổi thay nhỏ tùy vùng xử dụng tang và mõ. Huế, kinh sư ngồi ghế để đầu trần. Bình Định, kinh sư ngồi xuống chiếu, đầu đội tỳ lư, xử dụng 2 đẩu giống cái tang nhưng không có cán và mõ. Miền nam, kinh sư ngồi ghế đầu trần, xử dụng 2 đẩu và Giác Hoa Giác hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời qúa khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có một cô gái Bà la môn, nhơn mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gái ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh điạ ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của Địa Tạng Bồ án Ngũ phương Phật Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật Tông, Ngũ phương Phật là sự phối hợp giữa Ngũ phương, Ngũ Trí, Ngũ Phật, Ngũ Bộ và Ngũ Hành trong Thai Tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Theo sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay trong Trung Khoa Du Già Tập Yếu khắc bản năm Mậu Tý triều Vua Đồng Khánh và bài viết “LỄ THÁNG BẢY cho những oan hồn phiêu bạt” của Thầy Tuệ Sĩ, đàn tràng Chẩn tế tại Việt Nam được cung trần theo Kim Cang Giới Mạn Đà La. Chúng tôi xin trình bày khái quát như sauKim cang giới mạn đà la là thuyết minh hoạt dụng của trí huệ sai biệt trong lý tính không sai biệt, do đó Ngũ trí Như lai là trọng tâm của mạn đà la nầy. Hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân candramandala. Bên trong hình tròn nầy thiết lập các biểu tượng của năm vị Như Trung ương Chính giữa là vị trí Đức Phật Tỳ Lô Giá Na tức Đại Nhật Như Lai Mahà Vairocana – Tathàgata hiển thân sắc màu vàng, đối diện với bàn Giác Hoa. Đó là Pháp thân Phật Dharmakàya Buddha, như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp vũ trụ. Trong năm đại, Ngài biểu tượng cho không đại àkàzadhàtu, và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn. Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh phương chung quanh Ngài Đại Nhật Như Lai là vị trí của bốn đức Như Lai, theo thứ tự từ Đông qua Nam cho đến Bắc mà quý vị trong khoa Chẩn Tế thường nói cho dễ nhớ Tả Đông, Nam. Hữu Tây; Bắc từ trong đi ra theo chiều kim đồng hồ, tức bên tay trái là phương Đông và Nam, bên tay phải là phương Tây và Bắc như sauÁn Phương Đông A Súc Phật Akwobhya hay Bất Động Như Lai, hiển sắc thân màu xanh, trở mặt vào án Trung ương với các biểu tượng Phong đại vàyu-dhàtu, nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn động cơ tạo tác của các loại hữu tình; Đại viên cảnh trí, như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế Phương Nam Bảo Sanh Phật Ratnasambhava, hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào Trung ương với các biểu tượng Hỏa đại tejo-dhàtu, khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sanh và thế giới; tưởng uẩn, khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; Bình đẳng tánh trí, khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và PhươngTây A Di Đà Phật Amitabhà, hiển sắc màu trắng, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Thủy đại, khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn, khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; Diệu quan sát trí, nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu, của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy Phương Bắc Bất Không Thành Tựu Phật Amoghasiddhi, hiển sắc màu đen, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Địa đại, khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn, tác thành thế giới hữu tình; Thành sở tác trí, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sau Ngũ phương Phật làBàn Địa Tạng đồng hướng với Trung ươngBàn hộc thực thấp, để đồ cúng Cô hồnBàn Tiêu Diện cao hơn bàn Địa Tạng Nguyên Hòa Permalink HTML code to copy to your site or email messageClick below to select, Ctrl + C to Nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn

nghi thức chẩn tế miền trung