phân tích đoạn cuối đất nước
Centana Điền Phúc Thành có tổng quy mô gần 25 hecta chia làm nhiều giai đoạn bán hàng. Bán từ đầu 2016 đến cuối 2018 xong phần đất nền, phần căn hộ Centana Điền Phúc Thành được triển khai bán hàng vào năm 2022. Dự án khu dân cư Centana được xem là dự án có hạ tầng đẹp
Giới phân tích bình luận về chuyến công du Trung Á sắp tới của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ gặp Tổng thống Nga Vladimir Putin. Thứ tư 05/10/2022 13:42 | Hotline: 0879553979 | baoquocte2016@gmail.com
Nước phân chuồng hòa với nước với nồng độ bón cho hoá màu thích hợp là Độ pH của đất cần nằm trong khoảng từ 5,5 đến 7,5 (axit nhẹ đến trung tính). Nếu cần phải điều chỉnh độ pH, nên thực hiện điều này trước khi trồng bằng cách sử dụng vôi và/hoặc
Thầy Phan Thế Hoài, giáo viên Văn trường THPT Bình Hưng Hòa, TP HCM lưu ý, thí sinh diễn xuôi khi phân tích bài thơ, đoạn thơ sẽ bị trừ điểm tùy theo mức độ. Thứ bảy, 15/10/2022. Mới nhất International. Mới nhất; Thời sự ; đa dạng trên khắp đất nước. Nên cuối cùng
Đời Sống Nước ta có 1 ông lớn sở hữu nhiều quỹ đất bậc nhất: Chỉ 1 năm tăng gấp đôi số đất, chủ tịch trở thành tỷ phú thế giới By Hung Hung 15 Tháng Tư, 2022 0 36565 Từ quỹ đất ban đầu vào khoảng 5.400 ha ở thời điểm năm 2021, Novaland đã nới rộng được phạm vi quỹ đất lên đến 10.600 ha, trở thành "ông lớn" sở hữu quỹ đất nhiều bậc nhất Việt Nam.
Wo Kann Ich Reiche Frauen Kennenlernen. Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối . Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé! Dàn ý Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối MỞ BÀI Hiếm có một giai đoạn văn học nào mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Đất nước lại tập trung cao độ như giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” Vui thế hôm nay, Chế Lan Viên với “Sao chiến thắng”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã thể hiện một cách sâu sắc vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Đất nước của nhân dân”. Tư tưởng ấy được thể hiện đậm nét qua đoạn thơ sau Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân … Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… THÂN BÀI 1. Khái quát Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, cảm xúc nồng nàn. “Đất nước”là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Ngày xưa, người ta thường quan niệm Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, khi người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân dân. 2. Nội dung cảm nhận Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định ấy là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhà thơ khẳng định chắc nịch “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định ấy đã thể hiện một cách chân thành, mãnh liệt tình cảm của nhà thơ đối với dân tộc. Hơn ai hết, nhà thơ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn ai hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài đất nước. Vì thế Đất Nước không của riêng ai mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân. Ở câu thơ thứ hai, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định “Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Đất nước của nhân dân” được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, nhà thơ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc đến ca dao thần thoại ta lại càng nhớ đến nhân dân, vì hơn ai hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Mà đất nước của “ca dao thần thoại” nghĩa là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người. Và không phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan. Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất. Và khi nói đến “Đất nước của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Chức năng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Chức năng ấy cùng với ý nghĩa của nó được thể hiện qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Nhà thơ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai ấy không phải là ngọn gió thoáng qua, không phải là lời của bướm ong mà là lời nói là nghĩ suy chân thật. Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung bền vững không gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao ấy. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân người ta thường nghĩ đến những phẩm chất cần cù chịu khó, bất khuất kiên cường. Còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Ở phương diện thứ hai, Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ ấy lấy ý từ ca dao “Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần giá trị vật chất. Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và chiến đấu “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao cuộc chiến vệ quốc vĩ đại. Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi đến 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh để đến ngày toàn thắng. Bốn câu thơ cuối Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông không biết đến từ bến bờ nào nhưng khi hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” ấy vừa có ý nghĩa là dòng sông của quê hương đất nước nhưng vừa có ý nghĩa là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa đa dạng “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun đắp phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một đất nước đậm đà bản sắc dân tộc. 3. Tổng kết nghệ thuật Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca đặc sắc nhưng không lấy lại nguyên văn mà sáng tạo làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc nhà thơ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt Nam. KẾT BÀI Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích đã thể hiện một cách rất thành công tư tưởng lớn của thời đại “Đất Nước của nhân dân”. Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho ta một giọng thơ tài hoa và những câu thơ giàu tính triết lý để ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm tin vào sức mạnh của nhân dân và tin vào tình yêu Đất Nước của chính mình Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫu Đất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng sâu sắc “Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để thể hiện quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Trước hết, tác giả khái quát lại toàn bộ luận điểm “Đất nước của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về đất nước trong hai câu thơ đầu “Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, tinh thần của đất nước. Một trong các giá trị văn hóa đặc sắc nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu hiện cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh loài người… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị, vừa độc đáo. Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, nhà thơ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc. Sau khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê hương. Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” 4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa kết hợp các đặc sắc nghệ thuật như kho tàng tri thức, sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm…. Khổ thơ cuối cũng như toàn bộ bài thơ “Đất Nước” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và mai sau. Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối do ĐH KD & CN Hà Nội sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất! Đăng bởi ĐH KD & CN Hà Nội Chuyên mục Lớp 12, Ngữ Văn 12
Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối hay nhất hay nhất Video về Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối hay nhất Wiki về Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối hay nhất Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối hay nhất – Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối . Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé! Dàn ý Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối MỞ BÀI Hiếm có một thời kỳ văn học nào nhưng mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Non sông lại tập trung cao độ như thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” Vui thế hôm nay, Chế Lan Viên với “Sao thắng lợi”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã trình bày một cách thâm thúy vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Non sông của nhân dân”. Tư tưởng đó được trình bày đậm nét qua đoạn thơ sau Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân … Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… THÂN BÀI 1. Nói chung Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ thi sĩ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, xúc cảm nồng nàn. “Non sông”là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi xanh miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Ngày xưa, người ta thường quan niệm Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, lúc người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân dân. 2. Nội dung cảm nhận Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định đó là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Non sông của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Thi sĩ khẳng định cứng ngắc “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định đó đã trình bày một cách tâm thành, mãnh liệt tình cảm của thi sĩ đối với dân tộc. Hơn người nào hết, thi sĩ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn người nào hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài quốc gia. Vì thế Đất Nước ko của riêng người nào nhưng mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân. Ở câu thơ thứ hai, thi sĩ lại một lần nữa khẳng định “Non sông của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Non sông của nhân dân” được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, thi sĩ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc tới ca dao thần thoại ta lại càng nhớ tới nhân dân, vì hơn người nào hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Nhưng quốc gia của “ca dao thần thoại” tức là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người. Và ko phải tình cờ tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” trình bày cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ toàn cầu tâm hồn của nhân dân với tình mến thương, với sự lãng mạn cùng với ý thức sáng sủa. Đó là những tác phẩm do nhân dân thông minh, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất. Và lúc nói tới “Non sông của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú xinh xắn của văn hóa, văn học dân gian nhưng mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp ý thức của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lựa ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài Tác dụng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Tác dụng đó cùng với ý nghĩa của nó được trình bày qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Thi sĩ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai đó ko phải là ngọn gió thoáng qua, ko phải là lời của ong bướm nhưng mà là lời nói là suy nghĩ sống động. Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung vững bền ko gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết mến thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao đó. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa tới nay nói tới nhân dân người ta thường nghĩ tới những phẩm chất chuyên cần chịu thương chịu khó, quật cường kiên cường. Còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở trẻ thơ cho tới lúc trưởng thành. Ở phương diện thứ hai, Nhân dân giữ giàng và truyền lại cho ta quan niệm sống xinh xắn, thâm thúy, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ đó lấy ý từ ca dao “Cầm vàng nhưng mà lội qua sông/Vàng rơi ko tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần trị giá vật chất. Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và đấu tranh “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao trận đánh vệ quốc lớn lao. Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Trận đánh đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi tới 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu ko có sự kiên trì dai sức và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc nhỏ nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian nan, mất mát hi sinh để tới ngày toàn thắng. Bốn câu thơ cuối Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân thắng lợi mọi thử thách, sáng sủa tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông ko biết tới từ bờ bến nào nhưng lúc hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ tới những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” đó vừa có ý tức là dòng sông của quê hương quốc gia nhưng vừa có ý tức là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa nhiều chủng loại “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự nhiều chủng loại và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun vén phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một quốc gia đặm đà bản sắc dân tộc. 3. Tổng kết nghệ thuật Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca rực rỡ nhưng ko lấy lại nguyên văn nhưng mà thông minh làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc thi sĩ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt Nam. KẾT BÀI Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích đã trình bày một cách rất thành công tư tưởng lớn của thời đại “Đất Nước của nhân dân”. Cảm ơn thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm đã mang tới cho ta một giọng thơ tài hoa và những câu thơ giàu tính triết lý để ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm tin vào sức mạnh của nhân dân và tin vào tình yêu Đất Nước của chính mình Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫu Non sông là đề tài thân thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng quốc gia lại mang sắc thái riêng, được nhắc đến theo một cách riêng. Đặc thù, thời kỳ văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề quốc gia. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi trội tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc lớn lao vô cùng thâm thúy “Để quốc gia này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm động viên kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để trình bày ý kiến Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, tô vẽ nên vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Trước hết, tác giả nói chung lại toàn thể luận điểm “Non sông của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về quốc gia trong hai câu thơ đầu “Để quốc gia này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người thông minh ra các trị giá văn hóa, ý thức của quốc gia. Một trong các trị giá văn hóa rực rỡ nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu lộ cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh nhân loại… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra khái niệm về quốc gia vừa giản dị, vừa lạ mắt. Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng quốc gia của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, thi sĩ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng nhưng mà lội qua sông, vàng rơi ko tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc. Sau lúc diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê hương. Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” 4 câu thơ cuối mở ra ko gian mênh mang, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả ko chỉ gợi dáng sông nhưng mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa ý thức phong phú của dân tộc nhưng mà biểu lộ cụ thể chính là “câu hát”. Sông ko biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa liên kết các rực rỡ nghệ thuật như kho tàng tri thức, thông minh chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đượm đà…. Khổ thơ cuối cũng như toàn thể bài thơ “Đất Nước” đã mang tới những cảm nhận ko lẫn về quốc gia cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ ko chỉ có trị giá thức tỉnh thời bấy giờ nhưng mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và tương lai. Trên đây là các bài văn mẫu Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối do Trường TH Trảng Dài sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất! Đăng bởi Trường TH Trảng Dài Phân mục Lớp 12, Ngữ Văn 12 [rule_{ruleNumber}] Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước câu thơ cuối hay nhất [rule_3_plain] Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước câu thơ cuối hay nhất Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối . Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối2 Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫu Dàn ý Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối MỞ BÀI Hiếm có một thời kỳ văn học nào nhưng mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Non sông lại tập trung cao độ như thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” Vui thế hôm nay, Chế Lan Viên với “Sao thắng lợi”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã trình bày một cách thâm thúy vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Non sông của nhân dân”. Tư tưởng đó được trình bày đậm nét qua đoạn thơ sau Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân … Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…THÂN BÀI1. Nói chung Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ thi sĩ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, xúc cảm nồng nàn. “Non sông”là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi xanh miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Ngày xưa, người ta thường quan niệm Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, lúc người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân Nội dung cảm nhận Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định đó là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Non sông của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Thi sĩ khẳng định cứng ngắc “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định đó đã trình bày một cách tâm thành, mãnh liệt tình cảm của thi sĩ đối với dân tộc. Hơn người nào hết, thi sĩ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn người nào hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài quốc gia. Vì thế Đất Nước ko của riêng người nào nhưng mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân. Ở câu thơ thứ hai, thi sĩ lại một lần nữa khẳng định “Non sông của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Non sông của nhân dân” được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, thi sĩ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc tới ca dao thần thoại ta lại càng nhớ tới nhân dân, vì hơn người nào hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Nhưng quốc gia của “ca dao thần thoại” tức là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người. Và ko phải tình cờ tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” trình bày cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ toàn cầu tâm hồn của nhân dân với tình mến thương, với sự lãng mạn cùng với ý thức sáng sủa. Đó là những tác phẩm do nhân dân thông minh, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét Và lúc nói tới “Non sông của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú xinh xắn của văn hóa, văn học dân gian nhưng mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp ý thức của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lựa ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài Tác dụng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Tác dụng đó cùng với ý nghĩa của nó được trình bày qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Thi sĩ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai đó ko phải là ngọn gió thoáng qua, ko phải là lời của ong bướm nhưng mà là lời nói là suy nghĩ sống động. Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung vững bền ko gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết mến thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao đó. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa tới nay nói tới nhân dân người ta thường nghĩ tới những phẩm chất chuyên cần chịu thương chịu khó, quật cường kiên cường. Còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở trẻ thơ cho tới lúc trưởng thành. Ở phương diện thứ hai, Nhân dân giữ giàng và truyền lại cho ta quan niệm sống xinh xắn, thâm thúy, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ đó lấy ý từ ca dao “Cầm vàng nhưng mà lội qua sông/Vàng rơi ko tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần trị giá vật chất. Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và đấu tranh “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao trận đánh vệ quốc lớn lao. Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Trận đánh đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi tới 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu ko có sự kiên trì dai sức và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc nhỏ nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian nan, mất mát hi sinh để tới ngày toàn Bốn câu thơ cuối Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân thắng lợi mọi thử thách, sáng sủa tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông ko biết tới từ bờ bến nào nhưng lúc hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ tới những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” đó vừa có ý tức là dòng sông của quê hương quốc gia nhưng vừa có ý tức là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa nhiều chủng loại “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự nhiều chủng loại và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun vén phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một quốc gia đặm đà bản sắc dân Tổng kết nghệ thuật Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca rực rỡ nhưng ko lấy lại nguyên văn nhưng mà thông minh làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc thi sĩ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt BÀI Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích đã trình bày một cách rất thành công tư tưởng lớn của thời đại “Đất Nước của nhân dân”. Cảm ơn thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm đã mang tới cho ta một giọng thơ tài hoa và những câu thơ giàu tính triết lý để ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm tin vào sức mạnh của nhân dân và tin vào tình yêu Đất Nước của chính mình Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sôngPhân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫu Non sông là đề tài thân thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng quốc gia lại mang sắc thái riêng, được nhắc đến theo một cách riêng. Đặc thù, thời kỳ văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề quốc gia. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi trội tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc lớn lao vô cùng thâm thúy“Để quốc gia này là Đất Nước của Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiBiết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dàiÔi những dòng sông bắt nước từ đâuNhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm động viên kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để trình bày ý kiến Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, tô vẽ nên vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Trước hết, tác giả nói chung lại toàn thể luận điểm “Non sông của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về quốc gia trong hai câu thơ đầu“Để quốc gia này là Đất Nước của Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người thông minh ra các trị giá văn hóa, ý thức của quốc gia. Một trong các trị giá văn hóa rực rỡ nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu lộ cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh nhân loại… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra khái niệm về quốc gia vừa giản dị, vừa lạ mắt. Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng quốc gia của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, thi sĩ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc.“Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiBiết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng nhưng mà lội qua sông, vàng rơi ko tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc. Sau lúc diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê hương. Ôi những dòng sông bắt nước từ đâuNhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” 4 câu thơ cuối mở ra ko gian mênh mang, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả ko chỉ gợi dáng sông nhưng mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa ý thức phong phú của dân tộc nhưng mà biểu lộ cụ thể chính là “câu hát”. Sông ko biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa liên kết các rực rỡ nghệ thuật như kho tàng tri thức, thông minh chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đượm đà…. Khổ thơ cuối cũng như toàn thể bài thơ “Đất Nước” đã mang tới những cảm nhận ko lẫn về quốc gia cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ ko chỉ có trị giá thức tỉnh thời bấy giờ nhưng mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và tương đây là các bài văn mẫu Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối do Trường TH Trảng Dài sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!Đăng bởi Trường TH Trảng DàiPhân mục Lớp 12, Ngữ Văn 12 Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước câu thơ cuối hay nhất [rule_2_plain] Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước câu thơ cuối hay nhất [rule_2_plain] Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước câu thơ cuối hay nhất [rule_3_plain] Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước câu thơ cuối hay nhất Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối . Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, cụ thể, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học trò trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!Xem nhanh nội dung1 Dàn ý Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối2 Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫu Dàn ý Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối MỞ BÀI Hiếm có một thời kỳ văn học nào nhưng mà hình ảnh Tổ quốc – Dân tộc – Non sông lại tập trung cao độ như thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tố Hữu với “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời/ Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!” Vui thế hôm nay, Chế Lan Viên với “Sao thắng lợi”, Lê Anh Xuân từ hình tượng anh giải phóng quân đã tạo nên “Dáng đứng Việt Nam”. Và Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với Tổ quốc qua “Đất Nước” – một chương thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”. Chương thơ đã trình bày một cách thâm thúy vẻ đẹp của Đất Nước và tư tưởng lớn của thời đại “Non sông của nhân dân”. Tư tưởng đó được trình bày đậm nét qua đoạn thơ sau Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân … Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…THÂN BÀI1. Nói chung Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ thi sĩ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, xúc cảm nồng nàn. “Non sông”là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971. Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi xanh miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V. Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Ngày xưa, người ta thường quan niệm Đất Nước là của các triều đại, của vua. Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, lúc người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân Nội dung cảm nhận Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định đó là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ “Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân Non sông của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Thi sĩ khẳng định cứng ngắc “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định đó đã trình bày một cách tâm thành, mãnh liệt tình cảm của thi sĩ đối với dân tộc. Hơn người nào hết, thi sĩ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn người nào hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài quốc gia. Vì thế Đất Nước ko của riêng người nào nhưng mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân. Ở câu thơ thứ hai, thi sĩ lại một lần nữa khẳng định “Non sông của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Non sông của nhân dân” được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước. Vế thứ hai, thi sĩ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Nhắc tới ca dao thần thoại ta lại càng nhớ tới nhân dân, vì hơn người nào hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại. Nhưng quốc gia của “ca dao thần thoại” tức là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người. Và ko phải tình cờ tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” trình bày cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn “ca dao” bộc lộ toàn cầu tâm hồn của nhân dân với tình mến thương, với sự lãng mạn cùng với ý thức sáng sủa. Đó là những tác phẩm do nhân dân thông minh, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét Và lúc nói tới “Non sông của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú xinh xắn của văn hóa, văn học dân gian nhưng mà tiêu biểu là trong ca dao. Vẻ đẹp ý thức của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ chọn lựa ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài Tác dụng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy”. Tác dụng đó cùng với ý nghĩa của nó được trình bày qua ba phương diện. Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam. Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”. Thi sĩ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”. Tình yêu của chàng trai đó ko phải là ngọn gió thoáng qua, ko phải là lời của ong bướm nhưng mà là lời nói là suy nghĩ sống động. Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung vững bền ko gì có thể đếm đong được. Nhân dân dạy ta biết mến thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao đó. Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa tới nay nói tới nhân dân người ta thường nghĩ tới những phẩm chất chuyên cần chịu thương chịu khó, quật cường kiên cường. Còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở trẻ thơ cho tới lúc trưởng thành. Ở phương diện thứ hai, Nhân dân giữ giàng và truyền lại cho ta quan niệm sống xinh xắn, thâm thúy, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội”. Câu thơ đó lấy ý từ ca dao “Cầm vàng nhưng mà lội qua sông/Vàng rơi ko tiếc tiếc công cầm vàng”. Nhân dân đã dạy ta rằng ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người. Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần trị giá vật chất. Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và đấu tranh “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài”. Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao trận đánh vệ quốc lớn lao. Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Trận đánh đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi tới 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu ko có sự kiên trì dai sức và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc nhỏ nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian nan, mất mát hi sinh để tới ngày toàn Bốn câu thơ cuối Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân thắng lợi mọi thử thách, sáng sủa tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Nhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông ko biết tới từ bờ bến nào nhưng lúc hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ tới những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam. Và “dòng sông” đó vừa có ý tức là dòng sông của quê hương quốc gia nhưng vừa có ý tức là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử. Dân tộc ta có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa nhiều chủng loại “trăm màu, trăm dáng”. Và đó chính là sự nhiều chủng loại và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun vén phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một quốc gia đặm đà bản sắc dân Tổng kết nghệ thuật Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca rực rỡ nhưng ko lấy lại nguyên văn nhưng mà thông minh làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý. Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc thi sĩ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt BÀI Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích đã trình bày một cách rất thành công tư tưởng lớn của thời đại “Đất Nước của nhân dân”. Cảm ơn thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm đã mang tới cho ta một giọng thơ tài hoa và những câu thơ giàu tính triết lý để ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm tin vào sức mạnh của nhân dân và tin vào tình yêu Đất Nước của chính mình Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sôngPhân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫu Non sông là đề tài thân thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng quốc gia lại mang sắc thái riêng, được nhắc đến theo một cách riêng. Đặc thù, thời kỳ văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề quốc gia. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi trội tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc lớn lao vô cùng thâm thúy“Để quốc gia này là Đất Nước của Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiBiết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dàiÔi những dòng sông bắt nước từ đâuNhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm động viên kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để trình bày ý kiến Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, tô vẽ nên vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Trước hết, tác giả nói chung lại toàn thể luận điểm “Non sông của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về quốc gia trong hai câu thơ đầu“Để quốc gia này là Đất Nước của Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người thông minh ra các trị giá văn hóa, ý thức của quốc gia. Một trong các trị giá văn hóa rực rỡ nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu lộ cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh nhân loại… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra khái niệm về quốc gia vừa giản dị, vừa lạ mắt. Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng quốc gia của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, thi sĩ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc.“Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiBiết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù nhưng mà ko sợ lâu dài” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng nhưng mà lội qua sông, vàng rơi ko tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc. Sau lúc diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê hương. Ôi những dòng sông bắt nước từ đâuNhưng lúc về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười tới hát lúc chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” 4 câu thơ cuối mở ra ko gian mênh mang, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả ko chỉ gợi dáng sông nhưng mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa ý thức phong phú của dân tộc nhưng mà biểu lộ cụ thể chính là “câu hát”. Sông ko biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa liên kết các rực rỡ nghệ thuật như kho tàng tri thức, thông minh chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đượm đà…. Khổ thơ cuối cũng như toàn thể bài thơ “Đất Nước” đã mang tới những cảm nhận ko lẫn về quốc gia cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ ko chỉ có trị giá thức tỉnh thời bấy giờ nhưng mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và tương đây là các bài văn mẫu Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối do Trường TH Trảng Dài sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!Đăng bởi Trường TH Trảng DàiPhân mục Lớp 12, Ngữ Văn 12 Bạn thấy bài viết Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuốihay nhất có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuốihay nhất bên dưới để Trường TH Trảng Dài Nghĩacó thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website của Trường TH Trảng Dài Nhớ để nguồn Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuốihay nhất
Phân tích đoạn cuối “Đất nước” – tác giả Nguyễn Khoa Điềm hay nhất “Đất nước” – 2 tiếng thiêng liêng mà cao cả, là sự kết tinh, hội tụ, khát vọng cũng công sức của nhân dân. Những góc nhìn mới này sẽ được thể hiện rõ nét hơn trong từng con chữ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm qua phân tích đoạn cuối “Đất nước” dưới đây. Hi vọng bạn đọc sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích cho công cuộc viết văn và học tập của mình. Nội dung bài viết1 Dàn ý phân tích đoạn cuối “Đất nước” Mở bài phân tích đoạn cuối “Đất nước” Thân bài phân tích đoạn cuối “Đất nước” Kết bài phân tích đoạn cuối “Đất nước”2 Một số dạng đề văn phân tích đoạn cuối “Đất nước” Đề bài Viết đoạn văn phân tích “Đất nước” 10 câu cuối Đề bài Viết đoạn văn nêu lên nội dung 4 câu thơ cuối bài thơ “Đất nước” Đề bài Viết đoạn văn phân tích đoạn 4 “Đất nước” Dàn ý phân tích đoạn cuối “Đất nước” Sau đây sẽ là dàn ý phân tích đoạn cuối “Đất nước” giúp bạn đọc dễ dàng viết bài phân tích chi tiết và có thể dùng làm tài liệu tham khảo để hiểu rõ hơn về nội dung tác phẩm. Dàn ý sẽ giúp các bạn chọn ra và sắp xếp những nội dung chính, các ý giúp ăn điểm trong bài phân tích. Từ đó bạn đọc có thể tránh tình trạng bị trùng lặp, thiếu ý, lạc đề,… Mở bài phân tích đoạn cuối “Đất nước” – Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm, tác phẩm “Đất nước” – Nêu luận điểm khái quát về nội dung của đoạn trích + Đất nước cũng như cá nhân, là những thành tựu quá vãng lâu dài của sự cố gắng, hy sinh và tận tụy của bao thế hệ cha ông. Thấu hiểu được tư tưởng mới mẻ này, Nguyễn Khoa Điềm đã thổi hồn vào những con chữ để dựng lên hình ảnh một “đất nước” hùng vĩ, làm nổi bật lên tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc, cống hiến hết mình vì sự nghiệp của dân tộc qua tác phẩm “đất nước”, đặc biệt là đoạn cuối của bài. Thân bài phân tích đoạn cuối “Đất nước” – Chứng minh cho luận điểm “ Lí giải tư tưởng Đất nước của Nhân dân” + Đầu tiên, dưới nét vẽ tinh hoa của Nguyễn Khoa Điềm, ông đã khái quát lại một lần nữa những luận điểm chứng minh Đất nước là của nhân dân và đưa ra những tư tưởng mới về đất nước trong hai câu thơ đầu “Để đất nước…thần thoại”. + Tác giả tinh tế khi sử dụng nghệ thuật liệt kê những hình ảnh, di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh khắp mọi miền đất nước để làm nổi bật văn hóa truyền thống mang những giá trị tinh thần hết sức sâu sắc. + Một góc nhìn sắc nét, một tư tưởng mới mẻ, có chiều rộng về địa lí, chiều sâu về lịch sử. Những dãy núi trập trùng với hòn Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non nghiên. + Phong cảnh ấy không chỉ dừng lại ở việc được thiên nhiên ban tặng mà qua đó giúp tác giả thể hiện được cuộc đời, số phận, những đóng góp lớn lao của nhân dân, không tiếc mình mà hi sinh cho non nước. + Chính nhân dân là những con người đã dựng xây nên đất nước, đã đánh dấu cột mốc đời người lên mỗi ngọn núi, con sông “và ở đâu…. núi sông ta”. + Chưa dừng lại, ông còn cụ thể hóa luận điểm về tư tưởng đất nước của nhân dân qua những văn hóa dân gian có từ ngàn đời xưa “dạy biết yêu từ thuở còn nôi”, “biết quý công cầm vàng”, “biết trồng tre”,… + Là hình ảnh những anh hùng cứu nước đánh giặc giữ gìn gấm vóc, non sông. Là tình yêu thủy chung, son sắc, trọng tình trọng nghĩa. Tất cả những phẩm chất tốt đẹp ấy đều đã khắc sâu trong thâm tâm mỗi con người Việt Nam. + Mảnh đất này nhuộm bằng xương bằng máu, lấy máu đổi tự do, đổi lấy độc lập để cho ta mới có thể như ngày hôm nay. + Trùng trùng, điệp điệp, qua bao trắc trở, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắn nhủ với mọi người rằng Để có thể tạo nên một Đất nước đẹp như tranh vẽ này, thì chính nhân dân là người đã dày công gây dựng, góp phần mang lại vẻ đẹp trù phú, mới mẻ, muôn màu cho quê hương “ôi những….sông xuôi”. + Tác giả tinh tế khi sử dụng nghệ thuật liệt kê những hình ảnh, di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh khắp mọi miền đất nước,… – Chiều rộng địa lí + “Hòn trống mái”, “hòn Vọng Phu” Đây là 2 minh chứng lịch sử khẳng định tình nghĩa thủy chung, vẹn tròn son sắc của người phụ nữ Việt Nam qua bao đời nay. + “Núi Bút non Nghiên” Cảnh tượng đất trời phóng khoáng, sơn thủy liên tình gợi lên hình ảnh bút trời phê vào mây gió. + Thể hiện tinh thần hiếu học, luôn khao khát khám phá những chân trời mới mẻ của con người Việt Nam. – Chiều dài lịch sử + “ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm” Cha ông ta đánh giặc cứu nước, chống ngoại xâm, gìn giữ non sông gấm vóc => Tự hào truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc. + Họ gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống bằng cách truyền hạt lúa, lửa, giọng nói,… + “Đất nước này….thần thoại ca dao” Toàn bộ tư tưởng về Đất nước của tác giả đều đúc kết trong 2 câu thơ mang giá trị nhân văn, thể hiện tình yêu thương, sự trân quý công sức, coi trọng nghĩa tình, biết hi sinh vì Đất nước. + Nhân dân chính là khởi nguồn của Đất nước. Kết bài phân tích đoạn cuối “Đất nước” – Khái quát lại tác phẩm + Có thể nói rằng, chỉ vẻn vẹn 10 câu thơ cuối, linh hồn bài thơ như được tô điểm thêm sắc nét. + Với tài năng xuất chúng của mình, giọng thơ trữ tình thắm thiết, hẳn phải là người từng trải, có một lòng yêu nước nồng nàn, một tinh thần bất diệt với quê hương thì mới có thể viết nên những dòng thơ hay đến vậy. – Rút ra bài học kinh nghiệm + “Đất nước” đã mang lại giá trị to lớn về tư tưởng tiến bộ, mới mẻ. Đất nước Việt Nam không còn xa lạ nữa, mà nó trở nên gần gũi với ta hơn bao giờ hết. + Qua đây, Nguyễn Khoa Điềm gián tiếp nhen nhóm tình yêu nước trong mỗi một người dân Việt Nam hướng về nguồn cội. Dù có đi xa đi chăng nữa, thì quê hương vẫn mãi là nhà! Một số dạng đề văn phân tích đoạn cuối “Đất nước” Dưới đây là một số dạng đề văn phân tích đoạn cuối “Đất nước” đã được chọn lọc cẩn thận. Hi vọng sẽ hữu ích cho bạn đọc trong quá trình học tập và phân tích. Đề bài Viết đoạn văn phân tích “Đất nước” 10 câu cuối Dưới nét vẽ tinh hoa của Nguyễn Khoa Điềm, ông đã khái quát lại một lần nữa những luận điểm chứng minh Đất nước là của nhân dân và đưa ra những tư tưởng mới về đất nước trong hai câu thơ đầu “Để đất nước…thần thoại”. Tác giả tinh tế khi sử dụng nghệ thuật liệt kê những hình ảnh, di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh khắp mọi miền đất nước để làm nổi bật văn hóa truyền thống mang những giá trị tinh thần hết sức sâu sắc. Một góc nhìn sắc nét, một tư tưởng mới mẻ, có chiều rộng về địa lí, chiều sâu về lịch sử. Những dãy núi trập trùng với hòn Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non nghiên. Phong cảnh ấy không chỉ dừng lại ở việc được thiên nhiên ban tặng mà qua đó giúp tác giả thể hiện được cuộc đời, số phận, những đóng góp lớn lao của nhân dân, không tiếc mình mà hi sinh cho non nước. Chính nhân dân là những con người đã dựng xây nên đất nước, đã đánh dấu cột mốc đời người lên mỗi ngọn núi, con sông “và ở đâu…. núi sông ta”. Chưa dừng lại, ông còn cụ thể hóa luận điểm về tư tưởng đất nước của nhân dân qua những văn hóa dân gian có từ ngàn đời xưa “dạy biết yêu từ thuở còn nôi”, “biết quý công cầm vàng”, “biết trồng tre”,… Là hình ảnh những anh hùng cứu nước đánh giặc giữ gìn gấm vóc, non sông. Là tình yêu thủy chung, son sắc, trọng tình trọng nghĩa. Tất cả những phẩm chất tốt đẹp ấy đều đã khắc sâu trong thâm tâm mỗi con người Việt Nam. Mảnh đất này nhuộm bằng xương bằng máu, lấy máu đổi tự do, đổi lấy độc lập để cho ta mới có thể như ngày hôm nay. Trùng trùng, điệp điệp, qua bao trắc trở, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắn nhủ với mọi người rằng Để có thể tạo nên một Đất nước đẹp như tranh vẽ này, thì chính nhân dân là người đã dày công gây dựng, góp phần mang lại vẻ đẹp trù phú, mới mẻ, muôn màu cho quê hương. “Đất nước” đã mang lại giá trị to lớn về tư tưởng tiến bộ, mới mẻ. Đất nước Việt Nam không còn xa lạ nữa, mà nó trở nên gần gũi với ta hơn bao giờ hết. Đề bài Viết đoạn văn nêu lên nội dung 4 câu thơ cuối bài thơ “Đất nước” Đã quá nửa đời phiêu bạt, Nguyễn Khoa Điềm đúc kết lại kinh nghiệm đời người qua 4 câu thơ cuối “Em ơi…muôn đời”. Tác giả nói lên trách nhiệm của bản thân đối với Đất nước, nơi cho ta ơn dưỡng dục, nuôi dưỡng ta lớn về tinh thần. Lời thơ như tự tác giả bày tỏ nỗi lòng của mình với những thế hệ mai sau. Đất nước không còn xa lạ nữa, mà nó trở nên gần gũi, thiêng liêng, cao cả hơn bao giờ hết. Mỗi một cá nhân là một mảnh ghép không thể thiếu đối với nước nhà. Bằng cách sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp từ “phải biết” 2 lần, “phải biết gắn bó”, “phải biết hóa thân”. Đây như một mệnh lệnh, là một trách nhiệm dành cho mỗi một con người phải biết hành động vì Đất nước, sống là cống hiến. 4 chữ “Máu xương của mình” không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ nói vậy. Đất nước dựng xây được như ngày hôm nay đều là nhờ công sức to lớn của ông cha ta đánh đổi xương máu, nhuốm màu đỏ tươi để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Nhà thơ đã khéo léo đặt 4 chữ ấy vào bài thơ khiến người đọc không cảm thấy ghê sợ mà ngược lại càng thêm trân trọng, biết ơn cha ông ta khi xưa biết bao. Cho nên, ta “phải biết hóa thân”, dâng cả sự sống, tuổi trẻ, niềm tin, tình yêu và khát vọng cho Đất nước. Có như thế thì đất nước mới yêu thương lại chúng ta, ban cho ta những gì trù phú, màu mỡ, tươi đẹp nhất của cuộc đời. Đề bài Viết đoạn văn phân tích đoạn 4 “Đất nước” “Đất nước” – 2 tiếng thiêng liêng mà cao cả. Đó là sự kết tinh, hội tụ, khát vọng cũng công sức của nhân dân. Ta sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cũng như văn hóa, truyền thống, phong tục được thể hiện sâu sắc qua đoạn 4 bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Một góc nhìn sắc nét, một tư tưởng mới mẻ, có chiều rộng về địa lí, chiều sâu về lịch sử “Những người vợ nhớ chồng ….Hùng Vương” Những dãy núi trập trùng với hòn Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non nghiên. Phong cảnh ấy không chỉ dừng lại ở việc được thiên nhiên ban tặng mà qua đó giúp tác giả thể hiện được cuộc đời, số phận, những đóng góp lớn lao của nhân dân, không tiếc mình mà hi sinh cho non nước. “Ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm” Cha ông ta đánh giặc cứu nước, chống ngoại xâm, gìn giữ non sông gấm vóc. Tác giả tự hào truyền thống đánh giặc bảo vệ bờ cõi bằng xương máu của chính bản thân mỗi con người Việt Nam. Chính nhân dân là những con người đã dựng xây nên đất nước, đã đánh dấu cột mốc đời người lên mỗi ngọn núi, con sông “và ở đâu…. núi sông ta”. Đất nước là hiện thân, là hình ảnh của những con người, những con người vô danh làm nên hình hài, diện mạo của đất nước. Tác giả đã mạnh dạn thể hiện triết lí sâu sắc về phẩm chất hiếu học, tinh thần anh dũng hi sinh, bất khuất của dân tộc. “Đất nước” đã mang lại giá trị to lớn về tư tưởng tiến bộ, mới mẻ. Đất nước Việt Nam không còn xa lạ nữa, mà nó trở nên gần gũi với ta hơn bao giờ hết. Qua đây, Nguyễn Khoa Điềm gián tiếp nhen nhóm tình yêu nước trong mỗi một người dân Việt Nam hướng về nguồn cội, mang đến niềm tự hào cùng tinh thần trách nhiệm cao được khơi dậy trong mỗi cá nhân với non sông, gấm vóc. Trên đây là toàn bộ các bài mẫu cho đề bài liên quan đến chủ đề lập dàn ý nâng cao, phân tích chi tiết,… trong tác phẩm “Đất nước”. Qua bài phân tích đoạn cuối “Đất nước” phía trên, hi vọng bạn đọc có thể tham khảo và học tập tốt hơn trên trường. Xem thêm Phân tích khổ 1 2 “Tràng giang” – Huy Cận hay và đặc sắc nhất Phân Tích, Văn Học - Phân tích khổ 1, 2 “Tràng giang” – Huy Cận hay và đặc sắc nhất Phân tích người đàn bà ở tòa án huyện – truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” Phân tích “Câu cá mùa thu” học sinh giỏi hay và đặc sắc nhất Phân tích 4 câu đầu bài “Cảnh ngày hè” hay và ngắn gọn nhất Phân tích bài “Tiếng gà trưa” – Xuân Quỳnh chi tiết, đầy đủ nhất Phân tích nhân vật Lão Hạc chi tiết, hay và xúc động nhất Phân tích nhân vật Cám trong truyện cổ tích Tấm Cám đầy đủ nhất
Chọn đoạn văn cuối bài hoặc chủ đề Phân tích bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối. Các bài văn mẫu được tổng hợp và tổng hợp ngắn gọn, chi tiết, dễ hiểu từ những bài văn hay nhất, hay nhất của các em học sinh trên cả nước. Vui long tham khảo thông tin đo! Bạn Đang Xem Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối Giới thiệu Hiếm có thời kỳ văn học nào lại tập trung hình tượng quê hương đất nước như thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Với “Ôi, Việt Nam! Tình yêu của đời tôi/ Giờ đây tôi có thể ôm trọn lấy bạn, người ơi!” Hôm nay tôi rất vui, lan viên với “Ngôi sao chiến thắng”, và Lê Anh Xuân, người bắt đầu từ hình ảnh của Quân đội Giải phóng Nhân dân đã tạo ra một “tư thế Việt Nam”. Và Nguyễn khoa Điểm gắn với dân tộc bằng chữ “đất nước” – một khổ thơ trong sử thi “Bề mặt ước nguyện”. Bài thơ thể hiện sâu sắc vẻ đẹp của đất nước và những tư tưởng lớn của thời đại đó. Đoạn thơ sau thể hiện đậm nét ý tưởng này Đất nước này là đất nước của nhân dân … Gợi lên trăm màu trên trăm dáng sông… Văn bản 1. Khái quátNguyễn Khắc An thuộc thế hệ các nhà thơ lớn lên trong thời kỳ chống Mỹ, thơ ông giàu trí tuệ, tư tưởng sâu sắc và cảm xúc nồng nàn. “Giang sơn” là bài thơ được chọn từ chương thứ năm của bản hùng ca “Khí phách mở đường” hoàn thành năm 1971 về chiến trường bình đẳng. Bài thơ chúng ta sẽ phân tích nằm ở phần thứ hai của chương năm. Nội dung xuyên suốt cả bài thơ là tư tưởng “Trung Hoa Dân Quốc”. Xưa nay, người ta thường quan niệm rằng nước ở triều, vua ở. Trong “Dưới núi Nam” – Li Shangjie cũng nói rằng “Hà Nam Đế định cư dưới núi Nam”. Trong “The Great Fox” – Ruan Ze đã viết “từ Wan, Ding, Li và Chen để xây dựng một nền tảng độc lập từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, khi thấy được sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp xương máu của nhân dân đã làm nên đất nước, thì đất nước phải là của dân, do dân làm chủ. 2. Nội dung bình luận Mở đầu bài thơ là một câu khẳng định, là cảm hứng chung cho cả bài thơ Xem Thêm FIX Là Gì? FIX Là Gì Trong Mua Bán Hiện Nay ? “Đất nước này là đất nước của nhân dân Đất nước của nhân dân, quê hương của huyền thoại và ca dao” Nhà thơ khẳng định chắc nịch “Đất nước này là đất nước của nhân dân”, lời khẳng định này thể hiện một cách chân thành và mạnh mẽ tình cảm của nhà thơ đối với dân tộc. Nhà thơ hiểu hơn ai hết rằng để một quốc gia trường tồn, trường tồn thì nhân dân trước hết là những người đã đổ máu xương, đổ bao công sức để nắn nên hình hài của quốc gia. Vì vậy, Nhà nước không của riêng ai, mà là tài sản chung của nhân dân và mãi mãi thuộc về nhân dân. Ở khổ thơ thứ hai, một lần nữa nhà thơ khẳng định “Đất nước của muôn dân, quê hương của thần thoại và ca dao”. Điệp ngữ chuyển tiếp “Đất nước của nhân dân” được lặp lại, nhấn mạnh lại sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với đất nước. Ở vế thứ hai, nhà thơ nhấn mạnh “đất nước của những câu ca dao thần thoại”. Nói đến ca dao thần thoại, chúng ta lại càng nghĩ nhiều đến nhân dân, bởi nhân dân hơn ai hết chính là người sáng tạo ra văn hóa và ca dao thần thoại. Và đất nước “Thần Hài” có nghĩa là đất nước này đẹp như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như câu ca dao, như dòng sữa mẹ nuôi ta khôn lớn. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả đề cập đến hai trường phái tiêu biểu nhất của văn học dân gian. “Thần thoại” thể hiện cuộc sống thông qua trí tưởng tượng hoang dã của mọi người. Và “Hát bài hát thiếu nhi” sử dụng tình yêu, sự lãng mạn và sự lạc quan để tiết lộ thế giới tinh thần của mọi người. Đây là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo và lưu truyền, có khả năng thể hiện hồn cốt, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất. Khi nói đến “Đất nước của nhân dân”, tự nhiên tác giả trở về với cội nguồn văn hóa, văn học dân gian giàu đẹp, tiêu biểu là ca dao. Vẻ đẹp tinh thần của con người, trên hết, có thể tìm thấy trong ca dao, dân ca và truyện cổ tích. Ở đây tác giả chỉ trích ba câu để nói về ba khía cạnh quan trọng nhất của con người và truyền thống dân tộc Xem Thêm Bài 1,2,3,4 trang 14 SGK Hóa lớp 9 Tính chất hóa … – Anh Vũ Food Dạy con yêu mẹ thở từ trong nôi Biết rằng bạn giữ vàng cho những ngày bạn đi du lịch Biết trồng tre, đợi đến khi thành tre Trả thù và trả thù không sợ lâu dài Chức năng của dân ca, cũng giống như Nguyễn Khắc An, là “dạy dỗ”. Chức năng này và ý nghĩa của nó thể hiện ở ba khía cạnh. Ở khía cạnh thứ nhất, Ruan Guoyan nhấn mạnh lòng trung thành với tình yêu của người dân Việt Nam. Từ câu ca dao “Mẹ thương con từ trong nôi/ Con nằm mẹ khóc, mẹ ngồi mẹ lặng”. Nhà thơ đã viết về những cảm xúc chân thật của một chàng trai đang yêu “từ trong nôi em đã dạy anh biết yêu em”. Tình yêu của chàng trai không phải là một ánh mắt lướt qua, không phải là ngôn ngữ bay bướm, mà là một lời yêu thương thực sự. Thơ khẳng định một tình yêu bất diệt. Người ta dùng những câu ca dao này để dạy chúng ta biết yêu, biết yêu một cách lãng mạn, say đắm và thủy chung. Đây là một khám phá mới của nguyễn khoa điểm. Vì từ xưa đến nay, người ta thường nghĩ đến đức tính chăm chỉ, kiên trì, bền bỉ. Và đây chúng ta hát ca ngợi vẻ đẹp trẻ trung, lãng mạn của tình yêu, những chuyện tình lãng mạn từ tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Xem Thêm Bài trang 47 SBT Vật Lí 8 – HaylamdoVề khía cạnh thứ hai, nhân dân đã gìn giữ và lưu truyền nhân sinh quan cao đẹp, sâu sắc Câu ca dao “dạy cho biết”-sống ở đời phải biết ơn, phải biết “biết ơn”. đánh giá cao công lý “lặn với vàng mỗi ngày” . Bài thơ này lấy cảm hứng từ câu ca dao “Dạo chơi sông vàng/ Rớt vàng không tiếc ôm vàng”. Người ta bảo có thứ quý hơn vàng bạc châu báu, ngà voi… và đó chính là tình bạn giữa người với người. Vì vậy, nghĩa tình nặng gấp nhiều lần giá trị vật chất. Về khía cạnh thứ ba, những người bình dân đã dạy cho chúng ta hiểu biết về lòng căm thù và đấu tranh “Biết trồng tre chờ ngày nên gậy/ Trả thù không sợ lâu dài”. Hai câu thơ này gợi cho ta nhớ về những cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kỳ của nhân dân ta trong nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Từ khi dựng nước, tổ tiên ta luôn phải đối phó với giặc ngoại xâm. Mọi cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do đều kéo dài hàng thập kỷ, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ. Người phương bắc tranh giành chủ quyền mấy ngàn năm, rồi lại bị Tây đô đô hộ thêm 100 năm nữa… Xin hỏi các bạn, đất nước nhỏ bé này sao có thể vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, mất mát, hy sinh nếu không có sự kiên trì, khát vọng tự do mãnh liệt?Cho đến ngày toàn thắng. Bốn câu cuối Hình ảnh người lái đò vừa kéo con thuyền vượt thác vừa cất cao tiếng hát tượng trưng cho sức mạnh, tinh thần lạc quan, tin tưởng của con người vượt qua mọi thử thách, đưa đất nước đến một ngày mai thật sảng khoái. Chào buổi sáng Ôi, sông lấy nước ở đâu Nhưng khi về nước, tôi bắt đầu đi hát Mọi người đang chèo thuyền, kéo thuyền trên thác để hát Gợi lên trăm màu trên trăm dáng sông… Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của dòng sông từ đâu đến mà khi hòa vào đất Việt đã cất lên bao khúc hát. Những vần thơ của Nguyễn khoa Điểm gợi cho ta nhớ đến câu hò trên sông Mã, ca Huế du dương trên sông Hương, câu hò mạnh mẽ ở miền Trung hay đờn ca tài tử nghiêm túc trên sông Tiên. miền Nam. Và “dòng sông” ấy không chỉ là dòng sông của quê hương, mà còn là dòng sông của văn hóa, lịch sử. Có 54 quốc tịch và 54 loại luồng đa văn hóa ở Trung Quốc. Đó chính là sự đa dạng, phong phú của văn hóa Việt Nam, là những lớp phù sa được bồi đắp qua bao năm tháng thăng trầm đã bồi đắp cho đất nước bản sắc dân tộc. 3. Tổng kết nghệ thuậtĐoạn thơ để lại ca dao đặc sắc, nhưng không lấy lại nguyên văn mà tạo nên một quan niệm nghệ thuật riêng về sự mềm mại, tài hoa và triết lí. Từ “đất nước” được lặp lại nhiều lần và bao giờ nhà thơ cũng viết hoa từ “đất nước” tạo cảm giác tự hào thiêng liêng về đất nước Việt Nam. Kết luận Tóm lại, bài thơ chúng ta vừa phân tích đã thể hiện rất thành công những tư tưởng lớn mang tính thời đại của “Trung Hoa Dân quốc”. Cảm ơn nhà thơ nguyễn khoa điểm đã cho chúng ta những vần thơ tài hoa và những vần thơ triết lí, để chúng ta biết yêu hơn, yêu hơn, tin vào sức mạnh của nhân dân, tin vào lòng yêu nước. Tôi Ôi đất nước ta yêu như máu Xem Thêm Cha mẹ như vợ chồng Tổ quốc của tôi, tôi sẽ chết nếu cần thiết mọi gia đình Phân tích đoạn cuối bài thơ Đất nước 10 câu thơ cuối – văn mẫu Nông thôn là đề tài quen thuộc nhưng muôn thuở trong văn học Việt Nam. Mỗi thời kỳ, hình ảnh đất nước mang những sắc thái riêng, được nhắc đến một cách cụ thể. Đặc biệt là trong giai đoạn văn học đấu tranh 1945 – 1975, thời kỳ “cực thịnh” của thể loại thơ, văn xuôi với đề tài đất nước. Trong số đó, bài thơ “Tương” của Ruan Keyan là ấn tượng nhất. Khổ thơ cuối bài thơ nêu bật tư tưởng sâu sắc về đại sự nước Xem Thêm FIX Là Gì? FIX Là Gì Trong Mua Bán Hiện Nay ? “Đất nước này là đất nước của nhân dân Đất nước của nhân dân, quê hương của huyền thoại, ca dao Dạy con yêu mẹ từ trong nôi Biết rằng bạn giữ vàng cho những ngày bạn đi du lịch Tôi sẽ trồng tre, đợi nó mọc thành que Không sợ lâu dài, trả thù và trả thù Xem Thêm TFTP là gì? Hướng dẫn cài đặt và sử dụng TFTP ServerSông lấy nước từ đâu? Nhưng khi về nước, tôi bắt đầu đi hát Người ta hát khi vừa chèo vừa kéo thuyền qua thác Gợi ý hàng trăm màu sắc trên hàng trăm hình dạng dòng sông” Cũng như lớp nhà văn trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, Nguyễn Khả An có phong cách thơ riêng, tức là phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất nước” 1971 thuộc sử thi “Mặt đường khát khao” ra đời nhằm cổ vũ cuộc kháng chiến chống Nhật, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô lệ thực dân, hòa vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân. Mọi người. Đoạn cuối của bài thơ, Nguyễn Khắc An thể hiện quan điểm đất nước là của nhân dân từ góc độ phong tục dân gian, những câu ca dao thần thoại và chính con người đã tô điểm, dệt nên quê hương, đất nước tươi đẹp. Trước hết, tác giả tóm tắt toàn văn tác phẩm “Đất nước của nhân dân”, đồng thời đưa ra tư duy mới về đất nước ở hai câu đầu Xem Thêm FIX Là Gì? FIX Là Gì Trong Mua Bán Hiện Nay ? “Đất nước này là đất nước của nhân dân Đất nước của nhân dân, quê hương của huyền thoại, ca dao Nhân dân là những con người bình dị, vô danh nhưng cũng là người sáng tạo nên những giá trị văn hóa tinh thần của đất nước. Văn học dân gian là một trong những giá trị văn hóa đặc sắc nhất, cô đọng tâm hồn, tình cảm của con người, thể hiện trong ca dao, truyền thuyết, huyền thoại về sự ra đời của loài người… Hai câu thơ song thất đưa ra định nghĩa về đất nước thật giản dị và độc đáo. . Trong 4 câu tiếp theo, Nguyễn khoa Điểm kết tinh tư tưởng dân tộc của ca dao thần thoại bằng cách dựng lại các tác phẩm văn học dân gian. Nhà thơ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. “Dạy con yêu mẹ từ thuở còn thơ Biết rằng bạn giữ vàng cho những ngày bạn đi du lịch Tôi sẽ trồng tre, đợi nó mọc thành que Báo thù và trả thù, không sợ lâu dài Đó là những bản tình ca, lời ru, gợi lên tình yêu trong sáng, thủy chung. Chính từ cụm từ “vàng hòa bình” mà “lội vàng không tiếc vàng rơi, buồn ôm vàng” nhắc nhở phải trân trọng tình bạn giữa con người với nhau. Đó còn là hình ảnh “chí hiền” nhổ tre giết giặc bảo vệ non sông, đánh giặc giữ nước, giữ nước cho dân tộc và hình ảnh bất khuất của ông. Sau bản dịch, lời nhắn nhủ cuối cùng của Ruan Keyan Chính con người đã mang đến vẻ đẹp muôn màu, huyền ảo cho tâm hồn quê hương. Xem Thêm TFTP là gì? Hướng dẫn cài đặt và sử dụng TFTP ServerSông lấy nước từ đâu? Nhưng khi về nước, tôi bắt đầu đi hát Người ta vừa chèo vừa chèo kéo thuyền qua thác vừa hát Gợi ý hàng trăm màu sắc trên hàng trăm hình dạng dòng sông” 4 câu cuối mở ra không gian thơ mộng bao la của sông nước quê hương. Tác giả không chỉ gợi ra hình dáng của dòng sông mà cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông đều mang trong mình đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc được gửi gắm trong những “bài ca”. Những dòng sông không hát. River Soul, tuy nhiên, là quốc ca. Tóm lại, Nguyễn Cao Ngôn kết hợp nhiều đặc điểm nghệ thuật như kho tàng tri thức, sáng tạo chất liệu văn học dân gian, tư tưởng chính trị, giọng thơ, trữ tình nồng nàn chỉ trong một bài thơ ngắn. Khổ thơ cuối và cả bài thơ “Đất nước” gợi lên một cảm giác chân quê và những tư tưởng tiến bộ. Bài thơ này không chỉ có giá trị cảnh tỉnh lúc bấy giờ mà còn có ý nghĩa cảnh báo cho con cháu ngàn đời nay và mai sau. -/- Trên đây là bài văn mẫu được top giảiPhân tích đoạn cuối bài thơ Đất nước 10 câu thơ cuối sưu tầm và tổng hợp, mong rằng qua bài tham khảo này, bạn sẽ có thể viết bố cục của mình tốt nhất!
Đất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Dưới đây Ôn Thi HSG sẽ phân tích đất nước đoạn cuối mời các bạn tham Thi HSG cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đâyDân ý cảm nhận 17 câu cuối bài Đất nướcCảm nhận 21 câu cuối bài Đất nướcDạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiCảm nhận 13 câu cuối bài Đất nướcDàn ý đoạn 2 bài Đất nướcNội dung chính của phần đầu trong đoạn thơ đất nước làBiết trồng tre đợi ngày thành gậyBài bài Đất nướcVăn lớp 12 – Em hãy phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài phân tích tác phẩm văn học của bạn Trần Lan Anh lớp 12A1 trường THPT chuyên Nguyễn HuệDàn ý bài đất nước đoạn cuối1. Mở bàiBạn đang đọc Phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước– Giới thiệu Nguyễn Đình Thi với đề tài đất nước . – Tượng đài Tổ quốc sáng ngời sức mạnh và niềm tin bất diệt, bước ra từ trong máu và lửa với những vần thơ cuối bài Đất nước, như một lời tổng kết huy hoàng .2. Thân bàia. Hoàn cảnh sáng tác – Viết từ những năm 1948 đến năm 1955, khi cách mạng tháng tám thành công xuất sắc mới độ vài năm trời, đất nước vừa được độc lập không bao lâu, nhân dân ta vừa bước qua một cánh cửa mới đầy kỳ vọng, nhưng lại đã phải bước vào đại chiến ác liệt khác . b. Tiền đề cảm hứng – Bốn câu thơ cuối bài lại chính là đỉnh điểm của cảm hứng về đất nước, xuất phát từ cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, và thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954 . c. Phân tích 4 câu thơ cuối * Câu 1 “ Súng nổ rung trời tức giận ” Khái quát hóa trận chiến ác liệt, khí thế anh hùng của đất nước . – “ rung ” như rung chuyển cả trời đất, chất chứa oán hận, căm thù biết bao năm, quân dân ta đã phản đáp lại bằng những tiếng súng cuồng nộ “ tức giận ” . – Không khí của mặt trận không riêng gì được bao trùm bởi sự ác liệt, mà còn nằm ở khí thế của người chiến đấu, đem sự căm thù hóa thành tiếng súng khó chịu, hào hùng . * Câu 2 “ Người lên như nước vỡ bờ ” – Hình ảnh lớp lớp quân dân ta tiến vào mặt trận một cách rầm rộ . – Mang ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh, khí thế của quân đội ta chỉ chực chờ đến giờ phút này mà tuôn trào can đảm và mạnh mẽ, không được cho phép bất kể kẻ nào chống lại sức mạnh ghê gớm sánh ngang với tầm vóc của vạn vật thiên nhiên kỳ vĩ này . * Câu 3 và 4 Cảm hứng lãng mạn luôn bao quanh chủ nghĩa hiện thực . – Từ hình tượng người lính chiến bước ra từ trong khói lửa chói lòa, lấm lem bùn đất đã khái quát hóa thành hình tượng chung cho đất nước Nước Ta . – Mang khuynh hướng sử thi và chất anh hùng ca, tượng đài Nước Ta sừng sững, uy nghi hiện ra từ trong máu lửa cuộc chiến tranh, kinh qua biết bao nhiêu đại chiến nhưng vẫn hùng dũng đứng thẳng, can đảm và mạnh mẽ vươn mình, rũ sạch bùn đất của kiếp nô lệ lầm than suốt mấy mươi năm – Thể hiện sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân dân Nước Ta .3. Kết bài– Khái quát nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ .Bài làm phân tích đất nước đoạn cuốiĐất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa khi nào cũ trong văn học Nước Ta lâu nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, quy trình tiến độ văn học kháng chiến 1945 – 1975, thời kì “ bùng nổ ” những bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “ Đất Nước ” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm điển hình nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng thâm thúy “ Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao truyền thuyết thần thoạiDạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiXem thêm Đồ án Máy ép thủy quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ lâu dài hơn Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi ” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong thái trữ tình – chính luận. Đoạn trích “ Đất Nước ” 1971 thuộc trường ca “ Mặt đường khát vọng ” sinh ra nhằm mục đích cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh tri thức Hồ Chí Minh từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc bản địa. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc nhìn văn hóa truyền thống dân gian để bộc lộ quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại cổ xưa và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê nhà, xứ sở . Trước hết, tác giả khái quát lại hàng loạt vấn đề “ Đất nước của Nhân dân ” và đưa ra suy tưởng mới mẻ và lạ mắt về đất nước trong hai câu thơ đầu “ Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao truyền thuyết thần thoại ” Nhân dân là những người đơn giản và giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người phát minh sáng tạo ra những giá trị văn hóa truyền thống, niềm tin của đất nước. Một trong những giá trị văn hóa truyền thống rực rỡ nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa truyền thống dân gian, biểu lộ đơn cử từ những câu ca dao, câu truyện truyền kì, truyền thuyết thần thoại khai sinh loài người … Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị và đơn giản, vừa độc lạ . Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao truyền thuyết thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa truyền thống dân gian. Qua đó, nhà thơ chứng minh và khẳng định truyền thống cuội nguồn tốt đẹp của dân tộc bản địa . “ Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ lâu bền hơn ” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “ công cầm vàng ” từ câu “ Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng ”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “ Thánh Gióng ” nhổ tre đánh giặc bảo vệ nước nhà, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc bản địa . Sau khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê nhà . Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi ”4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng thêm Công Thức Xoay Rubik 2X2 Nhanh Nhất, Hướng Dẫn Cách Chơi Và Giải Rubik 2X2 Cơ BảnTóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa phối hợp những rực rỡ thẩm mỹ và nghệ thuật như kho tàng tri thức, phát minh sáng tạo vật liệu văn hóa truyền thống dân gian, tư duy thẩm mỹ và nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm …. Khổ thơ cuối cũng như hàng loạt bài thơ “ Đất Nước ” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng văn minh. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu ngày hôm nay và tương lai .Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫuĐất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng sâu sắc“Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiBiết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù mà không sợ dài lâuÔi những dòng sông bắt nước từ đâuMà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để thể hiện quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê hương, xứ hết, tác giả khái quát lại toàn bộ luận điểm “Đất nước của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về đất nước trong hai câu thơ đầu“Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, tinh thần của đất nước. Một trong các giá trị văn hóa đặc sắc nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu hiện cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh loài người… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị, vừa độc 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, nhà thơ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc.“Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiBiết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù mà không sợ dài lâu”Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê những dòng sông bắt nước từ đâuMà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa kết hợp các đặc sắc nghệ thuật như kho tàng tri thức, sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm…. Khổ thơ cuối cũng như toàn bộ bài thơ “Đất Nước” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và mai sau>>> XEM THÊM phân tích nhân vật tnú của trong tác phẩm rừng xà nuphân tích đoạn thơ những đường Việt Bắc của ta Đèo De núi Hồngphân tích sức sống tiềm tàng của mị trong đêm tình mùa xuânTheo Category Học tậpÔn Thi HSG cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đâyDân ý cảm nhận 17 câu cuối bài Đất nướcCảm nhận 21 câu cuối bài Đất nướcDạy anh biết yêu em từ thuở trong nôiCảm nhận 13 câu cuối bài Đất nướcDàn ý đoạn 2 bài Đất nướcNội dung chính của phần đầu trong đoạn thơ đất nước làBiết trồng tre đợi ngày thành gậyBài bài Đất nướcThông tin thêm Phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước Đất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Dưới đây Ôn Thi HSG sẽ phân tích đất nước đoạn cuối mời các bạn tham khảo. Ôn Thi HSG cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây Dân ý cảm nhận 17 câu cuối bài Đất nước Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Cảm nhận 13 câu cuối bài Đất nước Dàn ý đoạn 2 bài Đất nước Nội dung chính của phần đầu trong đoạn thơ đất nước là Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Bài bài Đất nướcVideo phân tích đất nước đoạn cuối Văn lớp 12 – Em hãy phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài phân tích tác phẩm văn học của bạn Trần Lan Anh lớp 12A1 trường THPT chuyên Nguyễn Huệ Dàn ý bài đất nước đoạn cuối 1. Mở bài Bạn đang đọc Phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước – Giới thiệu Nguyễn Đình Thi với đề tài đất nước . – Tượng đài Tổ quốc sáng ngời sức mạnh và niềm tin bất diệt, bước ra từ trong máu và lửa với những vần thơ cuối bài Đất nước, như một lời tổng kết huy hoàng .2. Thân bài a. Hoàn cảnh sáng tác – Viết từ những năm 1948 đến năm 1955, khi cách mạng tháng tám thành công xuất sắc mới độ vài năm trời, đất nước vừa được độc lập không bao lâu, nhân dân ta vừa bước qua một cánh cửa mới đầy kỳ vọng, nhưng lại đã phải bước vào đại chiến ác liệt khác . b. Tiền đề cảm hứng – Bốn câu thơ cuối bài lại chính là đỉnh điểm của cảm hứng về đất nước, xuất phát từ cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, và thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954 . c. Phân tích 4 câu thơ cuối * Câu 1 “ Súng nổ rung trời tức giận ” Khái quát hóa trận chiến ác liệt, khí thế anh hùng của đất nước . – “ rung ” như rung chuyển cả trời đất, chất chứa oán hận, căm thù biết bao năm, quân dân ta đã phản đáp lại bằng những tiếng súng cuồng nộ “ tức giận ” . – Không khí của mặt trận không riêng gì được bao trùm bởi sự ác liệt, mà còn nằm ở khí thế của người chiến đấu, đem sự căm thù hóa thành tiếng súng khó chịu, hào hùng . * Câu 2 “ Người lên như nước vỡ bờ ” – Hình ảnh lớp lớp quân dân ta tiến vào mặt trận một cách rầm rộ . – Mang ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh, khí thế của quân đội ta chỉ chực chờ đến giờ phút này mà tuôn trào can đảm và mạnh mẽ, không được cho phép bất kể kẻ nào chống lại sức mạnh ghê gớm sánh ngang với tầm vóc của vạn vật thiên nhiên kỳ vĩ này . * Câu 3 và 4 Cảm hứng lãng mạn luôn bao quanh chủ nghĩa hiện thực . – Từ hình tượng người lính chiến bước ra từ trong khói lửa chói lòa, lấm lem bùn đất đã khái quát hóa thành hình tượng chung cho đất nước Nước Ta . – Mang khuynh hướng sử thi và chất anh hùng ca, tượng đài Nước Ta sừng sững, uy nghi hiện ra từ trong máu lửa cuộc chiến tranh, kinh qua biết bao nhiêu đại chiến nhưng vẫn hùng dũng đứng thẳng, can đảm và mạnh mẽ vươn mình, rũ sạch bùn đất của kiếp nô lệ lầm than suốt mấy mươi năm – Thể hiện sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân dân Nước Ta . 3. Kết bài – Khái quát nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ . Bài làm phân tích đất nước đoạn cuối Đất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa khi nào cũ trong văn học Nước Ta lâu nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, quy trình tiến độ văn học kháng chiến 1945 – 1975, thời kì “ bùng nổ ” những bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “ Đất Nước ” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm điển hình nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng thâm thúy “ Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao truyền thuyết thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Xem thêm Đồ án Máy ép thủy lực. Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ lâu dài hơn Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi ” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong thái trữ tình – chính luận. Đoạn trích “ Đất Nước ” 1971 thuộc trường ca “ Mặt đường khát vọng ” sinh ra nhằm mục đích cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh tri thức Hồ Chí Minh từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc bản địa. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc nhìn văn hóa truyền thống dân gian để bộc lộ quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại cổ xưa và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê nhà, xứ sở . Trước hết, tác giả khái quát lại hàng loạt vấn đề “ Đất nước của Nhân dân ” và đưa ra suy tưởng mới mẻ và lạ mắt về đất nước trong hai câu thơ đầu “ Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao truyền thuyết thần thoại ” Nhân dân là những người đơn giản và giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người phát minh sáng tạo ra những giá trị văn hóa truyền thống, niềm tin của đất nước. Một trong những giá trị văn hóa truyền thống rực rỡ nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa truyền thống dân gian, biểu lộ đơn cử từ những câu ca dao, câu truyện truyền kì, truyền thuyết thần thoại khai sinh loài người … Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị và đơn giản, vừa độc lạ . Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao truyền thuyết thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa truyền thống dân gian. Qua đó, nhà thơ chứng minh và khẳng định truyền thống cuội nguồn tốt đẹp của dân tộc bản địa . “ Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ lâu bền hơn ” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “ công cầm vàng ” từ câu “ Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng ”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “ Thánh Gióng ” nhổ tre đánh giặc bảo vệ nước nhà, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc bản địa . Sau khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê nhà . Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi ” 4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Xem thêm Công Thức Xoay Rubik 2X2 Nhanh Nhất, Hướng Dẫn Cách Chơi Và Giải Rubik 2X2 Cơ Bản Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa phối hợp những rực rỡ thẩm mỹ và nghệ thuật như kho tàng tri thức, phát minh sáng tạo vật liệu văn hóa truyền thống dân gian, tư duy thẩm mỹ và nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm …. Khổ thơ cuối cũng như hàng loạt bài thơ “ Đất Nước ” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng văn minh. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu ngày hôm nay và tương lai . Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫuĐất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng sâu sắc “Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để thể hiện quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Trước hết, tác giả khái quát lại toàn bộ luận điểm “Đất nước của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về đất nước trong hai câu thơ đầu “Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, tinh thần của đất nước. Một trong các giá trị văn hóa đặc sắc nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu hiện cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh loài người… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị, vừa độc đáo. Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, nhà thơ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc. Sau khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê hương. Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” 4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa kết hợp các đặc sắc nghệ thuật như kho tàng tri thức, sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm…. Khổ thơ cuối cũng như toàn bộ bài thơ “Đất Nước” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và mai sau >>> XEM THÊMphân tích nhân vật tnú của trong tác phẩm rừng xà nuphân tích đoạn thơ những đường Việt Bắc của ta Đèo De núi Hồngphân tích sức sống tiềm tàng của mị trong đêm tình mùa xuânTheo Source Category Học tập Ôn Thi HSG cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây Dân ý cảm nhận 17 câu cuối bài Đất nước Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Cảm nhận 13 câu cuối bài Đất nước Dàn ý đoạn 2 bài Đất nước Nội dung chính của phần đầu trong đoạn thơ đất nước là Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Bài bài Đất nướcPhân tích khổ cuối bài thơ Đất NướcPhân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước Đất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Dưới đây Ôn Thi HSG sẽ phân tích đất nước đoạn cuối mời các bạn tham khảo. Ôn Thi HSG cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây Dân ý cảm nhận 17 câu cuối bài Đất nước Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Cảm nhận 13 câu cuối bài Đất nước Dàn ý đoạn 2 bài Đất nước Nội dung chính của phần đầu trong đoạn thơ đất nước là Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Bài bài Đất nướcVideo phân tích đất nước đoạn cuối Văn lớp 12 – Em hãy phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài phân tích tác phẩm văn học của bạn Trần Lan Anh lớp 12A1 trường THPT chuyên Nguyễn Huệ Dàn ý bài đất nước đoạn cuối 1. Mở bài Bạn đang đọc Phân tích khổ cuối bài thơ Đất Nước – Giới thiệu Nguyễn Đình Thi với đề tài đất nước . – Tượng đài Tổ quốc sáng ngời sức mạnh và niềm tin bất diệt, bước ra từ trong máu và lửa với những vần thơ cuối bài Đất nước, như một lời tổng kết huy hoàng .2. Thân bài a. Hoàn cảnh sáng tác – Viết từ những năm 1948 đến năm 1955, khi cách mạng tháng tám thành công xuất sắc mới độ vài năm trời, đất nước vừa được độc lập không bao lâu, nhân dân ta vừa bước qua một cánh cửa mới đầy kỳ vọng, nhưng lại đã phải bước vào đại chiến ác liệt khác . b. Tiền đề cảm hứng – Bốn câu thơ cuối bài lại chính là đỉnh điểm của cảm hứng về đất nước, xuất phát từ cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, và thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954 . c. Phân tích 4 câu thơ cuối * Câu 1 “ Súng nổ rung trời tức giận ” Khái quát hóa trận chiến ác liệt, khí thế anh hùng của đất nước . – “ rung ” như rung chuyển cả trời đất, chất chứa oán hận, căm thù biết bao năm, quân dân ta đã phản đáp lại bằng những tiếng súng cuồng nộ “ tức giận ” . – Không khí của mặt trận không riêng gì được bao trùm bởi sự ác liệt, mà còn nằm ở khí thế của người chiến đấu, đem sự căm thù hóa thành tiếng súng khó chịu, hào hùng . * Câu 2 “ Người lên như nước vỡ bờ ” – Hình ảnh lớp lớp quân dân ta tiến vào mặt trận một cách rầm rộ . – Mang ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh, khí thế của quân đội ta chỉ chực chờ đến giờ phút này mà tuôn trào can đảm và mạnh mẽ, không được cho phép bất kể kẻ nào chống lại sức mạnh ghê gớm sánh ngang với tầm vóc của vạn vật thiên nhiên kỳ vĩ này . * Câu 3 và 4 Cảm hứng lãng mạn luôn bao quanh chủ nghĩa hiện thực . – Từ hình tượng người lính chiến bước ra từ trong khói lửa chói lòa, lấm lem bùn đất đã khái quát hóa thành hình tượng chung cho đất nước Nước Ta . – Mang khuynh hướng sử thi và chất anh hùng ca, tượng đài Nước Ta sừng sững, uy nghi hiện ra từ trong máu lửa cuộc chiến tranh, kinh qua biết bao nhiêu đại chiến nhưng vẫn hùng dũng đứng thẳng, can đảm và mạnh mẽ vươn mình, rũ sạch bùn đất của kiếp nô lệ lầm than suốt mấy mươi năm – Thể hiện sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân dân Nước Ta . 3. Kết bài – Khái quát nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ . Bài làm phân tích đất nước đoạn cuối Đất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa khi nào cũ trong văn học Nước Ta lâu nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, quy trình tiến độ văn học kháng chiến 1945 – 1975, thời kì “ bùng nổ ” những bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “ Đất Nước ” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm điển hình nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng thâm thúy “ Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao truyền thuyết thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Xem thêm Đồ án Máy ép thủy lực. Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ lâu dài hơn Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi ” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong thái trữ tình – chính luận. Đoạn trích “ Đất Nước ” 1971 thuộc trường ca “ Mặt đường khát vọng ” sinh ra nhằm mục đích cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh tri thức Hồ Chí Minh từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc bản địa. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc nhìn văn hóa truyền thống dân gian để bộc lộ quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại cổ xưa và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê nhà, xứ sở . Trước hết, tác giả khái quát lại hàng loạt vấn đề “ Đất nước của Nhân dân ” và đưa ra suy tưởng mới mẻ và lạ mắt về đất nước trong hai câu thơ đầu “ Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao truyền thuyết thần thoại ” Nhân dân là những người đơn giản và giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người phát minh sáng tạo ra những giá trị văn hóa truyền thống, niềm tin của đất nước. Một trong những giá trị văn hóa truyền thống rực rỡ nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa truyền thống dân gian, biểu lộ đơn cử từ những câu ca dao, câu truyện truyền kì, truyền thuyết thần thoại khai sinh loài người … Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị và đơn giản, vừa độc lạ . Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao truyền thuyết thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa truyền thống dân gian. Qua đó, nhà thơ chứng minh và khẳng định truyền thống cuội nguồn tốt đẹp của dân tộc bản địa . “ Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ lâu bền hơn ” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “ công cầm vàng ” từ câu “ Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng ”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “ Thánh Gióng ” nhổ tre đánh giặc bảo vệ nước nhà, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc bản địa . Sau khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê nhà . Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi ” 4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Xem thêm Công Thức Xoay Rubik 2X2 Nhanh Nhất, Hướng Dẫn Cách Chơi Và Giải Rubik 2X2 Cơ Bản Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa phối hợp những rực rỡ thẩm mỹ và nghệ thuật như kho tàng tri thức, phát minh sáng tạo vật liệu văn hóa truyền thống dân gian, tư duy thẩm mỹ và nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm …. Khổ thơ cuối cũng như hàng loạt bài thơ “ Đất Nước ” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng văn minh. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu ngày hôm nay và tương lai . Phân tích đoạn cuối của bài thơ Đất Nước 10 câu thơ cuối – Bài mẫuĐất nước là đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ trong văn học Việt Nam xưa nay. Mỗi một thời kì, hình tượng đất nước lại mang sắc thái riêng, được đề cập theo một cách riêng. Đặc biệt, giai đoạn văn học kháng chiến 1945-1975, thời kì “bùng nổ” các bài thơ, bài văn xuôi về chủ đề đất nước. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn thơ cuối trong bài thơ đã làm nổi bật tư tưởng hóa thân vì Tổ quốc vĩ đại vô cùng sâu sắc “Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” Cùng với lớp nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm có lối thơ rất riêng, thuộc phong cách trữ tình – chính luận. Đoạn trích “Đất Nước” 1971 thuộc trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời nhằm cổ vũ kháng chiến, thức tỉnh trí thức Sài Gòn từ bỏ tư tưởng nô dịch thực dân, hòa mình với cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Trong đoạn cuối bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã đứng ở góc độ văn hóa dân gian để thể hiện quan điểm Đất Nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại và chính Nhân dân tô điểm, thêu dệt nên vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Trước hết, tác giả khái quát lại toàn bộ luận điểm “Đất nước của Nhân dân” và đưa ra suy tưởng mới mẻ về đất nước trong hai câu thơ đầu “Để đất nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhân dân là những người giản dị, vô danh nhưng cũng chính là những người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, tinh thần của đất nước. Một trong các giá trị văn hóa đặc sắc nhất kết tinh tâm hồn, tình cảm nhân dân chính là văn hóa dân gian, biểu hiện cụ thể từ các câu ca dao, câu chuyện truyền kì, thần thoại khai sinh loài người… Hai câu thơ với hai vế song song đã đưa ra định nghĩa về đất nước vừa giản dị, vừa độc đáo. Trong 4 câu thơ tiếp, Nguyễn Khoa Điềm đã cụ thể hóa tư tưởng đất nước của ca dao thần thoại bằng việc dựng lại những tác phẩm văn hóa dân gian. Qua đó, nhà thơ khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc. “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu” Đó là những câu ca dao về tình yêu và lời ru, gợi tình yêu trong sáng và sắt son. Đó là “công cầm vàng” từ câu “Cầm vàng mà lội qua sông, vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”, nhắc nhở trân trọng tình nghĩa giữa con người. Đó còn là hình ảnh “Thánh Gióng” nhổ tre đánh giặc bảo vệ non sông, kiên cường cho cuộc đấu tranh giành nước và giữ nước của dân tộc. Sau khi diễn giải, Nguyễn Khoa Điềm kết thúc bằng thông điệp chính nhân dân là người đã mang lại vẻ đẹp muôn màu và kì diệu cho hồn sông hồn núi quê hương. Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” 4 câu thơ cuối mở ra không gian bát ngát, mênh mông và thơ mộng của những dòng sông quê hương. Tác giả không chỉ gợi dáng sông mà còn gợi cả hồn sông thiêng liêng của dân tộc. Mỗi dòng sông sẽ mang trong mình một đời sống văn hóa tinh thần phong phú của dân tộc mà biểu hiện cụ thể chính là “câu hát”. Sông không biết hát. Thế nhưng, hồn sông chính là những câu hát thiêng liêng. Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã đa kết hợp các đặc sắc nghệ thuật như kho tàng tri thức, sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, tư duy nghệ thuật đậm chất chính luận, giọng thơ trữ tình đằm thắm…. Khổ thơ cuối cũng như toàn bộ bài thơ “Đất Nước” đã mang đến những cảm nhận không lẫn về đất nước cùng tư tưởng tiến bộ. Bài thơ không chỉ có giá trị thức tỉnh thời bấy giờ mà còn là lời nhắc cho hàng triệu lớp con cháu hôm nay và mai sau >>> XEM THÊMphân tích nhân vật tnú của trong tác phẩm rừng xà nuphân tích đoạn thơ những đường Việt Bắc của ta Đèo De núi Hồngphân tích sức sống tiềm tàng của mị trong đêm tình mùa xuânTheo Source Category Học tập Ôn Thi HSG cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây Dân ý cảm nhận 17 câu cuối bài Đất nước Cảm nhận 21 câu cuối bài Đất nước Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Cảm nhận 13 câu cuối bài Đất nước Dàn ý đoạn 2 bài Đất nước Nội dung chính của phần đầu trong đoạn thơ đất nước là Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Bài bài Đất nướcPhân tích khổ cuối bài thơ Đất NướcTổng hợp Ôn Thi HSG
phân tích đoạn cuối đất nước